Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 4

  • Hôm nay 4805

  • Tổng 9.203.600

UBND tỉnh ban hành văn bản góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quốc tịch

Post date: 28/11/2018

Font size : A- A A+

Theo đề nghị của Bộ Tư pháp về việc góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quốc tịch, UBND tỉnh đã ban hành văn bản góp ý đối với dự thảo Nghị định nêu trên.

Theo đó, để tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện Luật Quốc tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng như trong phân định thẩm quyền đăng ký hộ tịch giữa UBND cấp huyện và UBND cấp xã, đề nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến luật quốc tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cụ thể, theo quy định tại Khoản 3, Điều 3 Luật Quốc tịch thì “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”. Hiện nay, Luật Quốc tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa hướng dẫn cụ thể về vấn đề “sinh sống lâu dài ở nước ngoài” và quy định thời gian sinh sống ở nước ngoài là bao nhiêu năm thì được gọi là “sinh sống lâu dài” nên quá trình thực hiện còn gặp khó khăn, bất cập. Đồng thời, đề nghị bổ sung thêm điều, khoản mới quy định Thẻ Căn cước công dân là một trong những loại giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam cho phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 20 Luật Căn cước công dân.
Vềnội dung, tại Khoản 1, Điều 3 dự thảo đề nghị bỏ cụm từ “ Hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam được nộp cho Sở Tư pháp”  để tránh trùng lặp; về cách thức nộp, tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết các việc về quốc tịch tại Khoản 2, Điều 3, đề nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Điều 17 Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 24/3/2018 của Chính phủ quy định về thực hiện cơ chế một cửa, một của liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính.
Bên cạnh đó, đề nghị bỏ nội dung “giấy tờ không có giá trị pháp lý” ở Khoản 1, Điều 7 dự thảo vì đối với một người dân khi thực hiện các thủ tục liên quan đến quốc tịch rất khó để tự mình xác định giấy tờ nào có giá trị pháp lý, giấy tờ nào không có giá trị pháp lý, nếu quy định như trên khi vi phạm sẽ áp dụng các quy định tại Khoản 2 Điều này để xử lý là chưa phù hợp với tình hình thực tế. Đồng thời, đề nghị bổ sung một số nội dung quy định tại Khoản 1, Điều 7  về hành vi bị cấm như: Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật để đăng ký quốc tịch; đe dọa, cưỡng ép, cản trở việc thực hiện quyền, nghĩa vụ đăng ký quốc tịch; can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đăng ký quốc tịch; đưa hối lộ, mua chuộc, hứa hẹn lợi ích vật chất, tinh thần để được đăng ký quốc tịch; truy cập trái phép, trộm cắp, phá hoại thông tin trong Cơ sở dữ liệu về quốc tịch.
Tại Khoản 3, Điều 8 dự thảo, đề nghị quy định cụ thể về “khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam” và “đủ để có cuộc sống ổn định sau này”. Quy định như dự thảo còn mang tính chung chung nên sẽ gây khó trong quá trình áp dụng.
Về nội dung quy định người được miễn một số điều kiện nhập quốc tịch Việt tại Khoản 1 Điều 9, đề nghị bỏ cụm từ “cá nhân”, vì cá nhân không thể đại diện cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam để xác nhận công lao đặc biệt và quy định cụ thể nội dung “tiếp tục đóng góp lớn, lâu dài”, tại Điểm a Khoản 2 Điều 10 để tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình áp dụng.
Về hồ sơ xin trở lại quốc tịch tại Khoản 4, Điều 15 dự thảo, đề nghị không quy định trong trường hợp chỉ người cha hoặc người mẹ trở lại quốc tịch Việt Nam mà con chưa thành niên sống cùng người đó cũng trở lại quốc tịch Việt Nam theo cha, mẹ phải nộp văn bản thỏa thuận của cha, mẹ về việc trở lại quốc tịch Việt Nam của con. Trong trường hợp này, nếu quy định phải có văn bản thỏa thuận của cha, mẹ về việc trở lại quốc tịch Việt Nam của con thì sẽ rất khó áp dụng và bất lợi cho công dân Việt Nam khi họ muốn con mình được trở lại quốc tịch Việt Nam. Trên thực tế rất nhiều trường hợp công dân Việt Nam, nhất là phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài và sinh sống ở nước ngoài, sau đó ly hôn và người mẹ hoặc cha cùng con trở về sinh sống tại Việt Nam. Giữa họ và chồng/vợ không liên hệ với nhau nên việc phải nộp văn bản thỏa thuận của cha, mẹ về việc trở lại quốc tịch Việt Nam của con là rất khó khăn.
Ngoài ra, văn bản góp ý còn đề nghị dự thảo quy định cụ thể hơn một số nội dung để tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình áp dụng.
                                                                                      Lệ Hằng

 

More