Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 9

  • Hôm nay 1265

  • Tổng 9.212.750

Phân biệt Công chứng và Chứng thực

Post date: 21/09/2016

Font size : A- A A+
Kể từ ngày 01/7/2007, khi Luật Công chứng và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 thì khái niệm Công chứng và Chứng thực đã hoàn toàn tách bạch. Và đến nay, Luật Công chứng năm 2014, Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch càng thể hiện sự khác biệt giữa hai khái niệm này. 

Theo đó: Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực và tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; công chứng viên phải chịu trách nhiệm về nội dung của hợp đồng, giao dịch, chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng của mình, bồi thường thiệt hại do mình gây ra trong quá trình hành nghề công chứng nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.
Chứng thực là việc là việc cơ quan có thẩm quyền chứng thực bản sao đúng với bản chính; chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản và chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; người yêu cầu chứng thực phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch.
Về thẩm quyền công chứng, chứng thực:
Theo quy định của Luật Công chứng, Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở; công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản là bất động sản và văn bản công chứng ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền đối với bất động sản; công chứng hợp đồng bảo lãnh, cầm cố, thế chấp; công chứng các loại giao dịch, hợp đồng hợp pháp theo yêu cầu; công chứng Hợp đồng thương mại, Hợp đồng uỷ quyền; công chứng di chúc; công chứng văn bản thoả thuận phân chia di sản; công chứng văn bản khai nhận di sản; nhận lưu giữ di chúc; công chứng việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch.
Thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch theo quy định tại Nghị định 23/2015/NĐ-CP:
Theo quy định tại Nghị định 23/2015/NĐ-CP thìPhòng Tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Phòng Tư pháp) có thẩm quyền và trách nhiệm: Chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản là động sản; chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản mà di sản là động sản. Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Tư pháp thực hiện chứng thực, ký chứng thực và đóng dấu của Phòng Tư pháp.
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) có thẩm quyền và trách nhiệm: Chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản là động sản; chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai; chứng thực hợp đồng, giao dịch về nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở; chứng thực di chúc; chứng thực văn bản từ chối nhận di sản; chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản mà di sản là tài sản. Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện ký chứng thực và đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Như vậy, với quy định nêu trên thì cá nhân, tổ chức có quyền lựa chọn “công chứng” hợp đồng, giao dịch tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc “chứng thực” tại Phòng Tư pháp và UBND cấp xã. Tuy nhiên, xét về khía cạnh hệ quả pháp lý, nếu “công chứng” tại các tổ chức hành nghề công chứng thì toàn bộ nội dung và tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch đó công chứng viên phải chịu hoàn toàn trách nhiêm; nếu xảy ra tranh chấp, khởi kiện tại Tòa án thì văn bản do công chứng chứng nhận có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh và công chứng viên phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng nếu để xảy ra thiệt hại. Còn trường hợp cá nhân, tổ chức lựa chọn hình thức “Chứng thực” hợp đồng, giao dịch tại Phòng Tư pháp hoặc UBND cấp xã thì Phòng Tư pháp, UBND cấp xã chỉ chịu trách nhiệm về thời gian, địa điểm, năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia giao dịch còn về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch, Phòng Tư pháp, UBND cấp xã không chịu trách nhiệm về nội dung này mà trách nhiệm này thuộc về các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. Nếu có tranh chấp thì 2 bên tham gia giao dịch tự thỏa thuận hoặc giải quyết tại Tòa án. Văn bản chứng thực chỉ có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian,địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. Do đó, với sự khác biệt nhau về hệ quả pháp lý của 2 hình thức “Công chứng”, “Chứng thực”  nêu trên với mong muốn nhằm giúp các độc giả, cá nhân, tổ chức phân biệt rõ nội dung của 2 hình thức chứng nhận này, để có sự lựa chọn khi tham gia các hợp đồng, giao dịch, nhất là hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất và nhà ở nhằm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch, tránh tranh chấp xảy ra.                                             
Luật gia Trà Đình Phúc

More