Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 2

  • Hôm nay 255

  • Tổng 9.237.828

Một số nội dung mới, cơ bản của Nghị định 110/2013/NĐ-CP và Nghị định 54/2014/NĐ-CP liên quan đến tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành Tư pháp

20:51, Thứ Năm, 2-10-2014

Xem với cỡ chữ : A- A A+

              Ngày 24/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; và ngày 29/5/2014 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 54/2014/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành Tư pháp. Đây là hai văn bản quy phạm pháp pháp luật mới, liên quan đến tổ chức và hoạt động của Thanh tra Ngành Tư pháp. Sở Tư pháp Quảng Bình giới thiệu một số nội dung mới, cơ bản của hai văn bản trên để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan biết, nghiên cứu, quán triệt nhằm để thực hiện, phối hợp và giám sát việc thực hiện trong thời gian tới.

              I. NGHỊ ĐỊNH SỐ 110/2013/NĐ-CP

Nghị định số 110/2013/NĐ-CP là một trong số những Nghị định có phạm vi điều chỉnh tương đối rộng, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong 05 lĩnh vực, gồm: bổ trợ tư, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Nghị định gồm 08 chương, 75 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 11/11/2013 và thay thế Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp; Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình; Nghị định số 10/2009/NĐ-CP ngày 06/02/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản. Nghị định số 110/2013/NĐ-CP có một số nội dung mới, cơ bản sau đây:

1. Xác định rõ các tổ chức, cá nhân là đối tượng bị xử phạt

- Đối với các tổ chức, thực tế xử phạt vi phạm hành chính thời gian vừa qua, còn có sự phân biệt giữa cơ quan nhà nước, tổ chức sự nghiệp công lập với tổ chức sự nghiệp ngoài công lập, nhiều hành vi vi phạm hành chính của tổ chức sự nghiệp công đã không bị xử phạt, trong khi đó, cũng hành vi vi phạm hành chính như vậy nhưng nếu do tổ chức sự nghiệp ngoài công lập thực hiện thì lại bị xử phạt. Tình trạng trên dẫn đến sự bất bình đẳng giữa các tổ chức hoạt động trong cùng một lĩnh vực và không bảo đảm tính răn đe, ngăn ngừa vi phạm, tính công minh của pháp luật. Khắc phục bất hợp lý này, trên cơ sở quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP xác định rõ những tổ chức thuộc đối tượng bị xử phạt của Nghị định quy định trong từng lĩnh vực, cụ thể:

+ Trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, các tổ chức là đối tượng bị xử phạt bao gồm: các tổ chức hành nghề công chứng; tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư; tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam; trung tâm tư vấn pháp luật; văn phòng giám định tư pháp; tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp; trung tâm trọng tài, tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam;

+ Trong lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, các tổ chức là đối tượng bị xử phạt bao gồm: trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; văn phòng con nuôi nước ngoài; tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý; cơ quan Trung ương của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và đơn vị trực thuộc của các tổ chức này thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật với cơ quan chính phủ, tổ chức quốc tế liên chính phủ và tổ chức phi chính phủ nước ngoài;

+ Trong lĩnh vực phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, các tổ chức là đối tượng bị xử phạt chính là các doanh nghiệp, hợp tác xã tiến hành thủ tục phá sản.

+ Cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm mà hành vi đó không thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao và các tổ chức khác không phải là cơ quan nhà nước vi phạm hành chính cũng là đối tượng bị xử phạt của Nghị định.

- Đối với các cá nhân, Nghị định quy định theo hướng về nguyên tắc cá nhân vi phạm hành chính sẽ bị xử phạt nhưng nếu cá nhân là công chức, viên chức thực hiện hành vi vi phạm khi đang thi hành công vụ, nhiệm vụ và hành vi đó thuộc công vụ, nhiệm vụ được giao thì không bị xử phạt, mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.

2. Sửa đổi, bổ sung, mô tả cụ thể hành vi vi phạm hành chính

- Trong hoạt động công chứng, Nghị định đã bổ sung thêm 14 loại hành vi vi phạm hành chính mới như hành vi xác nhận không đúng thời gian công tác pháp luật, thời gian và kết quả tập sự hành nghề công chứng để đề nghị bổ nhiệm công chứng viên (điểm c khoản 2 Điều 11); lời chứng của công chứng viên trong văn bản công chứng không đầy đủ nội dung theo quy định của Luật Công chứng (điểm đ khoản 2 Điều 14)… và đã cụ thể hóa và quy định xử phạt đối với hành vi công chứng trước vào hợp đồng, giao dịch khi chưa xác định đầy đủ các bên chủ thể của hợp đồng giao dịch đó (khoản 6 Điều 14).

- Đối với hoạt động bán đấu giá tài sản, Nghị định đã bổ sung thêm 13 nhóm hành vi vi phạm mới như không lập biên bản hoặc ghi biên bản không đầy đủ chi tiết diễn biến của phiên đấu giá; không ghi kết quả cuộc bán đấu giá vào sổ đăng ký bán đấu giá tài sản (điểm b khoản 2 Điều 19); lập danh sách khống về người đăng ký mua tài sản bán đấu giá, lập hồ sơ khống, lập hồ sơ sai sự thật; thông đồng, dìm giá trong hoạt động bán đấu giá tài sản (điểm a, b khoản 7 Điều 19);...

- Trong hoạt động luật sư, Nghị định đã bổ sung thêm 12 loại hành vi như làm giả chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư, giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam, giấy chứng nhận về việc tham gia tố tụng, giấy chứng nhận người bào chữa; mạo danh luật sư để hành nghề luật sư dưới bất kỳ hình thức nào (điểm a, b khoản 5 Điều 6); hay hành vi vi phạm quy định về tổ chức hành nghề luật sư như: phân công luật sư hướng dẫn tập sự hành nghề luật sư quá số người theo quy

3. Sửa đổi, bổ sung về hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả

- Về hình thức xử phạt:

+ Đối với hình phạt chính: Mức phạt tiền quy định tại các chương II, III, IV, V và VI của Nghị định này được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân; Mức phạt tiền quy định tại điều 7, 8, 9, 15, 18, 21, 22, 29, 44, 51, 58, 59, 60, 62 và 63 được áp dụng đối với tổ chức; trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm hành chính như của cá nhân thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

+ Đối với hình phạt bổ sung: Hình thức xử phạt bổ sung được quy định Nghị định như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ, thẻ có thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng, bãi bỏ các hình thức tước giấy phép, chứng chỉ không thời hạn để phù hợp với Luật Xử lý vi phạm hành chính.

- Về biện pháp khắc phục hậu quả: Đã bổ sung một số biện pháp khắc phục hậu quả cho phù hợp với Luật xử lý vi phạm hành chính như hủy bỏ kết quả bán đấu giá tài sản, hủy bỏ giấy tờ giả... Ngoài ra Nghi định quy định đối với một số biện pháp khắc phục hậu quả mà người có thẩm quyền xử phạt không có thẩm quyền thực hiện thì kiến nghị người có thẩm quyền hoặc cơ quan có thẩm quyền thực hiện.

4. Quy định cụ thể về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính

Nghị định số 110/2013/NĐ-CP đã quy định cụ thể về những người có thẩm quyền và trách nhiệm lập biên bản vi phạm hành chính, gồm 02 nhóm: người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Nghị định mà đang thi hành công vụ, nhiệm vụ và công chức, viên chức đang thi hành công vụ, nhiệm vụ cũng có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính. Nghị định cũng quy định cụ thể từng lĩnh vực mà người có thẩm quyền lập biên bản vừa theo cấp hành chính từ cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh và tới cấp trung ương lại vừa theo lĩnh vực quản lý ngành (Điều 65).

5. Phân định rõ thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Nghị định quy định thẩm quyền xử phạt cho từng chức danh cụ thể từ Điều 66 đến Điều 70, đó là Chủ tịch Ủy ban nhân các cấp, thanh tra Bộ Tư pháp; thanh tra sở Tư pháp; Tổng cục trưởng, Cục trưởng, Chi cục trưởng cơ quan thi hành án dân sự các cấp; Trưởng phòng Thi hành án dân sự cấp quân khu; chấp hành viên thi hành án dân sự; người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được uỷ quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phá sản; Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện; Chánh toà chuyên trách Toà án nhân dân cấp tỉnh; Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh; Chánh toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Chánh toà chuyên trách Toà án nhân dân tối cao. Nghị định cũng quy định chi tiết về thẩm quyền xử phạt của Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp để bảo đảm phù hợp với tinh thần Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Mức phạt tiền của từng chức danh có thẩm quyền xử phạt, căn cứ thẩm quyền được quy định tại các Điều 38, 46, 48, 49, 51 Luật Xử lý vi phạm hành chính và mức phạt tiền tối đa đối với từng lĩnh vực được quy định tại Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định đã cụ thể hóa mức phạt tiền của từng chức danh trong từng lĩnh vực có thẩm quyền xử phạt.

Thẩm quyền về mức phạt này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Trong trường hợp phạt tiền đối với tổ chức thì thẩm quyền xử phạt gấp 02 lần thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân (Điều 71). Đồng thời, căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính và quy định về quản lý nhà nước tại các văn bản pháp luật có liên quan, Điều 72 của Nghị định đã phân định rõ ràng thẩm quyền xử phạt của từng chức danh để đảm bảo phù hợp với lĩnh vực được quy định tại các Chương của Nghị định.

II. NGHỊ ĐỊNH SỐ 54/2014/NĐ-CP

Ngày 29/5/2014 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 54/2014/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành Tư pháp (có hiệu lực kể từ ngày 20/7/2014)  thay thế Nghị định số 74/2006/NĐ-CP ngày 01/8/2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tư pháp. Với bố cục gồm 06 chương, 50 điều quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra ngành Tư pháp, thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành tư pháp và cộng tác viên thanh tra ngành Tư pháp; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động thanh tra ngành Tư pháp, Nghị định số 54/2014/NĐ-CP đã đánh dấu bước phát triển mới, rất quan trọng về hoàn thiện thể chế, đổi mới về cả tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành Tư pháp.  Ngày 08/8/2014, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã có Quyết định số 1846/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 54/2014/NĐ-CP ngày 29/5/2014 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành Tư pháp nhằm tổ chức phổ biến, quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức làm công tác quản lý, những người làm công tác thanh tra Tư pháp và các cơ quan, đơn vị có liên quan.

So với Nghị định số 74/2006/NĐ-CP, Nghị định số 54/2014/NĐ-CP có một số nội dung mới, cơ bản như sau:

 1. Bổ sung 2 cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành Tư pháp thuộc Bộ Tư pháp là Cục Bổ trợ tư pháp và Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực; đồng thời quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này.

2.  Xác định và phân biệt rõ hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của ngành Tư pháp

Trong hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra ngành Tư pháp, chỉ có Thanh tra Bộ Tư pháp và Thanh tra Sở Tư pháp có thẩm quyền thanh tra hành chính. Trong đó, Thanh tra Bộ Tư pháp thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, gồm các đơn vị thuộc Bộ, các cơ quan thi hành án dân sự địa phương và các tổ chức chức, cá nhân thuộc các cơ quan, đơn vị đó. Thanh tra Sở Tư pháp thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Sở Tư pháp.

Quy định cụ thể về đối tượng thanh tra chuyên ngành, nội dung thanh tra chuyên ngành, thẩm quyền ra quyết định thanh tra chuyên ngành và trình tự, thủ tục thanh tra chuyên ngành và thanh tra lại. Theo đó, đối tượng thanh tra chuyên ngành của thanh tra ngành Tư pháp là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ chấp hành quy định của pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp. Nội dung thanh tra chuyên ngành Tư pháp bao gồm 18 lĩnh vực: luật sư; tư vấn pháp luật; công chứng; bán đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; hộ tịch; nuôi con nuôi; quốc tịch; chứng thực; lý lịch tư pháp; phổ biến, giáo dục pháp luật; trợ giúp pháp lý; đăng ký giao dịch bảo đảm; bồi thường nhà nước; kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; hợp tác với nước ngoài về pháp luật; giám định tư pháp; thi hành pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Trong các lĩnh vực trên, có hai lĩnh vực thanh tra chuyên ngành mới là thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực trách nhiệm bồi thường nhà nước và thanh tra việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, vì đây là những lĩnh vực Bộ Tư pháp mới được giao thêm nhiệm vụ quản lý nhà nước theo quy định của Nghị định số 22/2013/NĐ-CP.

3. Phân định rõ thẩm quyền và phạm vi thanh tra chuyên ngành của các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra ngành Tư pháp

Thanh tra Bộ Tư pháp có thẩm quyền thanh tra 18/18 lĩnh vực thanh tra chuyên ngành; Thanh tra Sở Tư pháp có thẩm quyền thanh tra 16/18 lĩnh vực, vì 02 lĩnh vực Thanh tra Sở Tư pháp không có thẩm quyền thanh tra là Quốc tịch và Hợp tác quốc tế về pháp luật (Luật Quốc tịch và Nghị định 78/2008/NĐ-CP về quản lý hợp tác với nước ngoài về pháp luật không giao Sở Tư pháp có chức năng quản lý nhà nước đối với hai lĩnh vực này); Cục Bổ trợ tư pháp có thẩm quyền thanh tra 06/18 lĩnh vực thanh tra chuyên ngành là luật sư, tư vấn pháp luật, công chứng, bán đấu giá tài sản, giám định tư pháp và trọng tài thương mại; Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực có thẩm quyền thanh tra 03/18 lĩnh vực thanh tra chuyên ngành là hộ tịch, quốc tịch và chứng thực.

Trong cùng một lĩnh vực, nội dung thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Bộ, Cục Bổ trợ tư pháp, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực thường có phạm vi và đối tượng rộng hơn nội dung thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Sở. Việc phân định rõ ràng thẩm quyền, trách nhiệm thanh tra chuyên ngành giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra ngành Tư pháp tại Nghị định này là một bước tiến rõ rệt về cả nội dung quy định và kỹ thuật lập quy, góp phần tạo sự minh bạch, rõ ràng, tránh được lạm dụng thẩm quyền hoặc lúng túng khi triển khai thực hiện Nghị định.

4. Về việc xây dựng, phê duyệt kế hoạch thanh tra hàng năm và xử lý chồng chéo trong hoạt động thanh tra

a) Về việc xây dựng, phê duyệt kế hoạch thanh tra:  Nghị định số 54/2014/NĐ-CP quy định rõ hơn về việc xây dựng và phê duyệt kế hoạch thanh tra hàng năm của Thanh tra Bộ Tư pháp đồng thời quy định rõ về trách nhiệm trong việc đề xuất kế hoạch thanh tra hàng năm của Cục Bổ trợ tư pháp, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực để Thanh tra Bộ tổng hợp kế hoạch thanh tra trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt; quy định về việc lập kế hoạch thanh tra của Thanh tra Sở Tư pháp.

b) Về việc xử lý chồng chéo trong hoạt động thanh tra: Nghị định số 54/2014/NĐ-CP quy định rõ trong trường hợp kế hoạch thanh tra của Thanh tra Bộ Tư pháp chồng chéo với kế hoạch thanh tra của Thanh tra Sở Tư pháp thì thực hiện theo kế hoạch thanh tra của Thanh tra Bộ Tư pháp. Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp xử lý việc chồng chéo trong hoạt động thanh tra giữa Thanh tra Bộ Tư pháp, Cục Bổ trợ tư pháp, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực với Thanh tra Sở Tư pháp. Chánh Thanh tra Sở Tư pháp báo cáo Chánh Thanh tra tỉnh xử lý việc chồng chéo trong hoạt động thanh tra với các cơ quan thanh tra của địa phương; Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp phối hợp với Chánh Thanh tra tỉnh xử lý việc chồng chéo trong hoạt động thanh tra ngành Tư pháp với các cơ quan thanh tra của địa phương.

5. Về thanh tra lại và thanh tra đột xuất

a) Về thanh tra lại: Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, Cục trưởng Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kết luận thuộc phạm vi, thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật khi được Bộ trưởng Bộ Tư pháp giao.

b) Về thẩm quyền thanh tra đột xuất:

- Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp, Chánh Thanh tra Sở Tư pháp ra quyết định thanh tra đột xuất, thành lập đoàn thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng khi được giao hoặc theo yêu cầu của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Giám đốc Sở Tư pháp. Quyết định thanh tra đột xuất được gửi Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Giám đốc Sở Tư pháp để báo cáo.

- Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, Cục trưởng Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực ra quyết định thanh tra đột xuất, thành lập đoàn thanh tra những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật khi được Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp giao hoặc theo yêu cầu của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Quyết định thanh tra đột xuất được gửi Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp để báo cáo.

Đây cũng được coi là một trong những điểm mới cơ bản, phù hợp với thực tiễn quản lý nhà nước của ngành Tư pháp hiện nay vì trước đây, theo Nghị định số 74/2006/NĐ-CP, Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp, Chánh Thanh tra Sở Tư pháp phải trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Giám đốc Sở Tư pháp quyết định việc thanh tra đột xuất.

6. Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh thuộc các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành

Nghị định số 54/2014/NĐ-CP đã quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp và Cục trưởng Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực tương ứng với thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp quy định tại Khoản 4 Điều 46 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Khoản 4 Điều 67 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP. Đối với thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người được giao nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành tư pháp của 02 Cục nói trên, Điều 44 của Nghị định số 54/2014/NĐ-CP cũng quy định có quyền xử phạt vi phạm hành chính tương ứng với thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của thanh tra viên tư pháp quy định tại Khoản 1 Điều 46 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Khoản 1 Điều 67 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP. Việc quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh trên giúp cho các chức danh này có thể thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà không cần phải đợi sửa đổi, bổ sung Nghị định số 110/2013/NĐ-CP góp phần duy trì, tăng cường trật tự, kỷ cương hành chính trong các lĩnh vực có liên quan./.