Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 2

  • Hôm nay 430

  • Tổng 9.204.549

Những nội dung cơ bản của quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý

Post date: 01/09/2017

Font size : A- A A+
Quy tắc nghề nghiệp là những chuẩn mực, những yêu cầu thuộc về bản chất của một loại hình nghề nghiệp buộc các chủ thể khi tham gia vào quá trình hành nghề đều phải tuân theo, phải thực hiện đúng.

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một nghề mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc, khi mà đối tượng được trợ giúp pháp lý không phải chi trả bất cứ một khoản kinh phí nào từ việc thụ hưởng các giá trị mà dịch vụ pháp lý mang lại. Được xác định là một loại hình “nghề nghiệp đặc biệt” với những chuẩn mực, yêu cầu nhất định nhằm đảm bảo quyền bình đẳng trong việc tiếp cận dịch vụ pháp lý, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng được TGPL, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật. Những chuẩn mực về hành vi, phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh nghề nghiệp và những yêu cầu đối với tổ chức thực hiện TGPL, với người thực hiện TGPL phải tuân theo được gọi là quy tắc nghề nghiệp TGPL.
Để cụ thể hóa nguyên tắc “tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý” được quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật TGPL và phù hợp với đặc điểm, tính chất của hoạt động TGPL, ngày 8/12/2008 Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 09/2008/QĐ-BTP. Theo đó, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm; Văn phòng luật sư; Công ty luật; Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội-nghề nghiệp; Trợ giúp viên pháp lý và cộng tác viên TGPL phải có trách nhiệm tuân thủ nghiêm túc 12 quy tắc nghề nghiệp TGPL. Cụ thể như sau:
Quy tắc giữ gìn và không ngừng nâng cao uy tín nghề nghiệp (Điều 4): Đây là quy tắc đầu tiên xác lập vị trí, vai trò, trách nhiệm của tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL trong việc xây dựng, duy trì, giữ gìn và phát triển uy tín nghề nghiệp TGPL.
Người thực hiện TGPL phải có trách nhiệm nghề nghiệp, tận tâm, yêu nghề, tâm huyết với nghề; không ngừng rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức, phẩm chất chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp để có đủ năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; không lợi dụng hoạt động TGPL để mưu lợi cá nhân, xâm phạm lợi ích nhà nước.
Tổ chức thực hiện TGPL phải có trách nhiệm trong việc xây dựng, duy trì, phát triển uy tín nghề nghiệp của tổ chức mình để xứng đáng là địa chỉ tin cậy cho người được TGPL tiếp cận và sử dụng; thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ và kỹ năng nghề nghiệp; nâng cao phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho người thực hiện TGPL thuộc tổ chức mình. 
Quy tắc trung thực, khách quan (Điều 5): Đây là quy tắc quan trọng, thể hiện đặc trung của nghề TGPL với tư cách là một nghề luật, gắn với quá trình thực thi pháp luật, áp dụng pháp luật.  
Người thực hiện TGPL phải luôn trung thực, tôn trọng sự thật khách quan để tìm ra bản chất khách quan cuẩ vụ việc, tránh những sai sót không đáng có. NGười thực hiên TGPL phải có trách nhiệm thu thập đầy đủ, toàn diện các thông tin cần thiết về vụ việc TGPL và các tài liệu khác có liên quan. Khi cần thiết phải tiến hành xác minh, tìm hiểu thêm.
 Tổ chức thực hiện TGPL có trách nhiệm sử dụng các biện pháp cần thiết để hỗ trợ kịp thời người thực hiện TGPL trong việc thu thập đầy đủ các thông tin, tài liệu có liên quan; không can thiệp trái pháp luật vào quá trình thực hiện vụ việc của người thực hiện TGPL hoặc có hành vi khác làm ảnh hưởng đến tính khách quan của vụ việc TGPL.  
Quy tắc tuân thủ và tôn trọng pháp luật (Điều 6): Đây vừa là nguyên tắc hoạt động, vừa là quy tắc nghề nghiệp TGPL.Quy tắc này đòi hỏi trong quá trình thực hiện TGPL, tổ chức thực hiện TGPL và người thực hiện TGPL phải dựa trên các quy định của pháp luật, tuân thủ pháp luật, tôn trọng và thực thi pháp luật bảo đảm để các chủ thể có thể thực hiện được các quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định, bảo đảm nội dung TGPL phải đúng và phù hợp với quy định của pháp luật.  
Quy tắc bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý (Điều 7): Đây vừa là nguyên tắc hoạt động, vừa là quy tắc nghề nghiệp TGPL. Quy tắc này giữ vai trò quyết định, chi phối các quy tắc nghề nghiệp TGPL khác.  
Quy tắc này đòi hỏi tổ chức thực hiện TGPL và người thực hiện TGPL phải luôn tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, đặt lợi ích của người được TGPL làm mục đích hoạt động của tổ chức mình; phải sử dụng mọi biện pháp để hướng đến bảo vệ tốt nhất các quyền, lợi ích hợp pháp và tôn trọng các quyền của người được TGPL; bảo đảm thời gian, tiến độ, chất lượng vụ việc TGPL.  
Quy tắc bảo đảm bí mật thông tin về vụ việc trợ giúp pháp lý (Điều 8): Đây là quy tắc đặc thù của hoạt động TGPL.
Người thực hiện TGPL phải bảo đảm bí mật thông tin về vụ việc trợ giúp pháp lý mà mình có được trong quá trình thực hiện TGPL; không sử dụng thông tin mà mình có được để trục lợi hoặc gây thiệt hại cho người được TGPL.
Tổ chức thực hiện TGPL có trách nhiệm sử dụng các biện pháp hợp pháp trong quá trình thực hiện TGPL và lưu trữ hồ sơ, tài liệu để giữ bí mật thông tin về vụ việc TGPL, kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp để lộ bí mật thông tin theo quy định.
Quy tắc tác phong, thái độ và hành vi ứng xử đúng mực (Điều 9): Quy tắc này yêu cầu người thực hiện TGPL khi làm việc với người được TGPL phải lịch sự, thân thiện, cảm thông, biết tôn trọng, lắng nghe và chia sẽ; không hách dịch hoặc có các hành vi coi thường người được TGPL.
Tổ chức thực hiện TGPL phải có trách nhiệm xây dựng môi trường làm việc thuận lợi để người thực hiện TGPL có điều kiện bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghiệp vụ, rèn luyện tác phong, thái độ và hành vi ứng xử; kịp thời uốn nắn tác phong, thái độ, hành vi ứng xử lệch lạc của người thực hiện TGPL.
Quy tắc không phân biệt đối xử (Điều 10)  
Quy tắc này quy định tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL không được thành kiến, thiên vị hoặc có bất kỳ biểu hiện, hành vi phân biệt đối xử với người được TGPL vì bất kỳ lý do về dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, trình độ học vấn, địa vị xã hội, giới tính, độ tuổi, thể chất hoặc vụ việc TGPL.  
Các quy tắc về quan hệ với đồng nghiệp, với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan (từ Điều 11 đến Điều 15)  
Các quy tắc này điều chỉnh mối quan hệ giữa người thực hiện TGPL với đồng nghiệp, với người được TGPL, với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, trong đó đáng chú ý là các quy tắc trong mối quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan thông tin đại chúng. Theo đó, tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL có trách nhiệm tôn trọng, hợp tác, hỗ trợ và giúp đỡ các cơ quan, tổ chức này trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao, bảo đảm không làm ảnh hưởng đến hoạt động công vụ bình thường của các cơ quan này.  
Để bảo đảm có cơ chế thực hiện quy tắc nghề nghiệp TGPL, ngoài các hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại Điều 9 Luật TGPL thì Quyết định cũng đã quy định về những việc tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL không được làm, bao gồm: không được cung cấp những thông tin, tài liệu, chứng cứ mà biết rõ là không xác thực làm ảnh hưởng đến thời gian, chất lượng giải quyết vụ việc trợ giúp pháp lý  hoặc có hành vi trái pháp luật làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc kéo dài thời gian, gây cản trở cho việc giải quyết vụ việc trợ giúp pháp lý. Người thực hiện TGPL không được sách nhiễu, chậm trễ, gây khó khăn, phiền hà cho người được TGPL; hứa hẹn trước về kết quả giải quyết vụ việc TGPL; thực hiện vụ việc TGPLcho hai người được TGPL trở lên có quyền lợi đối lập nhau trong cùng một vụ việc; xúc phạm, hạ thấp danh dự, uy tín của đồng nghiệp... Đối với Trợ giúp viên pháp lý còn không được làm các việc mà pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, pháp luật về phòng chống tham nhũng quy định không được làm.
Quy tắc nghề nghiệp TGPL có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ bổ sung cho các quy định của pháp luật về TGPL mà còn là một trong những biện pháp bảo đảm quan trọng để nâng cao chất lượng vụ việc TGPL. Quy tắc nghề nghiệp TGPL còn là thước đo về hành vi để người thực hiện TGPL lấy đó làm tiêu chuẩn tự tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu, tự giác tuân thủ và thực hiện; đồng thời cũng là công cụ để tổ chức thực hiện TGPL có cơ sở đánh giá năng lực, phẩm chất, nhân cách của người thực hiện TGPL. Chính vì vậy, tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL trách nhiệm phải luôn tuân thủ quy tắc nghề nghiệp TGPL, góp phần cũng cố, phát triển loại hình nghề nghiệp tuy rất mới mẽ nhưng đầy tính nhân văn.
Phan Thủy
                                                                                                     Trung tâm TGPL NN

More