Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 1

  • Hôm nay 148

  • Tổng 9.211.633

GIỚI THIỆU VĂN BẢN

Post date: 11/12/2015

Font size : A- A A+

Ngày 07/8/2015, Chính phủ ban hành Nghị định 65/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước liên quan đến hành vi đăng, phát, cung cấp, đưa tin, công bố thông tin sai sự thật. Việc xử phạt các hành vi vi phạm hành chính đối với cơ quan báo chí về đăng, phát, cung cấp, đưa tin, công bố thông tin sai sự thật trong các lĩnh vực thống kê, năng lượng nguyên tử, quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn, giáo dục, hàng không dân dụng, dạy nghề, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ, y tế trước đây được quy định rải rác tại nhiều nghị định khác nhau, thì nay được áp dụng thống nhất theo Điều 8 Nghị định số 159/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/10/2015.
 
Ngày 14/8/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 67/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.Theo đó nhiều hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã được sửa đổi, bổ sung cụ thể: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi yêu cầu chứng thực không được thực hiện ngay trong ngày hoặc trong ngày làm việc tiếp theo; Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký mà không ký, ghi rõ họ tên, đóng dấu theo đúng quy định; không ghi lời chứng vào trang cuối của bản sao có từ 02 (hai) trang trở lên; không đóng dấu giáp lai đối với bản sao, giấy tờ, văn bản mà người yêu cầu chứng thực đã ký có từ 02 (hai) tờ trở lên; chứng thực chữ ký trong trường hợp người yêu cầu chứng thực không ký trước mặt người thực hiện chứng thực; nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích vật chất khác từ người yêu cầu chứng thực ngoài phí chứng thực và chi phí cho việc chứng thực đã được niêm yết… Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/10/2015.
 
Ngày 03/9/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2015/NĐ-CP về quản lý hoạt động của người, phương tiện trong khu vực biên giới biển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo đó, công dân Việt Nam (trừ công dân có hộ khẩu thường trú trong khu vực biên giới biển) vào khu vực biên giới biển phải có một trong các loại giấy tờ sau: Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu, Căn cước công dân hoặc Giấy chứng minh sĩ quan, Giấy chứng minh Quân đội, Giấy chứng minh Công an nhân dân (đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân); nếu ở qua đêm phải đăng ký lưu trú tại Công an cấp xã sở tại. Người điều khiển phương tiện đường thủy hoạt động trong khu vực biên giới biển phải có bằng hoặc chứng chỉ Thuyền trưởng do cơ quan có thẩm quyền cấp; trường hợp mang theo vũ khí phải có Giấy phép sử dụng vũ khí; phải có Biển số đăng ký và mang theo các loại giấy tờ (bản chính hoặc bản sao có chứng thực) sau: Giấy chứng nhận đăng ký tàu thuyền; Giấy xác nhận đã đăng ký tàu cá (đối với tàu cá có tổng công suất dưới 20CV); Giấy chứng nhận đăng kiểm tàu thuyền hoặc Giấy chứng nhận về an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của tàu thuyền theo quy định; Danh sách thuyền viên hoặc sổ thuyền viên (đối với tàu cá), hoặc chứng chỉ thuyền viên; Giấy chứng nhận bảo hiểm thuyền viên; Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện; Giấy tờ liên quan đến hàng hóa trên tàu thuyền; Giấy phép khai thác thủy sản, hải sản (đối với tàu cá có trọng tải từ 0,5 tấn trở lên); Sổ nhật ký hành trình. Ngoài ra, nghị định còn quy định đối với người nước ngoài đến, hoạt động hoặc làm việc, học tập trong khu vực biên giới biển; tàu thuyền nước ngoài hoạt động trong khu vực biên giới biển; hoạt động diễn tập quân sự, diễn tập tìm kiếm, cứu nạn, diễn tập an ninh hàng hải, tổ chức bắn đạn thật hoặc sử dụng vật liệu nổ trong khu vực biên giới biển… Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/10/2015.
 
Ngày 07/9/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 72/2015/NĐ-CP về quản lý hoạt động thông tin đối ngoại bao gồm thông tin chính thức về Việt Nam, thông tin quảng bá hình ảnh Việt Nam và thông tin tình hình thế giới vào Việt Nam. Theo đó, các cơ quan thông tấn, báo chí, công ty truyền thông, phóng viên nước ngoài sẽ được hỗ trợ, tạo điều kiện trong hoạt động viết tin, bài, sản xuất chương trình và thực hiện các xuất bản phẩm nhằm giới thiệu về Việt Nam trên các phương tiện thông tin, đại chúng của nước ngoài. Việc hoạt động thong tin đối ngoại phải đảm bảo các nguyên tắc: Tuân thủ chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các điều ước quốc tế mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; tuân thủ pháp luật và phong tục tập quán của nước sở tại; bảo đảm không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, uy tín, hình ảnh, quan hệ ngoại giao, hợp tác quốc tế của Việt Nam; bảo vệ bí mật nhà nước; không kích động nhân dân chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại khối đoàn kết toàn dân; không kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước; bảo đảm thông tin chính xác, kịp thời theo đúng định hướng thông tin tuyên truyền đối ngoại của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ cũng như các chương trình, kế hoạch thông tin đối ngoại đã được phê duyệt; không đưa tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống nhằm xúc phạm danh dự của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của công dân. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 22/10/2015.
 
Ngày 09/9/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2015/NĐ-CP về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 – 2020, theo đó sẽ hỗ trợ từ 05 - 10 triệu đồng/ha để mua cây giống, phân bón, chi phí một phần nhân công bằng tiền (trường hợp trồng cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ) cho hộ gia đình trồng rừng sản xuất và phát triển lâm sản ngoài gỗ. Hộ gia đình trồng rừng sản xuất và phát triển lâm sản ngoài gỗ còn được hỗ trợ từ Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho vay không có tài sản bảo đảm phần giá trị đầu tư còn lại với hạn mức vay tối đa là 15.000.000 đồng/ha, mức lãi suất là 1,2%/năm trong thời hạn từ khi trồng đến khi khai thác chính theo chu kỳ kinh doanh của loài cây trồng nhưng không quá 20 năm. Ngoài ra, hộ gia đình nghèo tham gia trồng rừng còn được trợ cấp 15kg gạo/khẩu/tháng hoặc bằng tiền tương ứng với giá trị 15kg gạo/khẩu/tháng tại thời điểm trợ cấp trong thời gian chưa tự túc được lương thực nhưng tối đa không quá 07 năm… Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02/11/2015.
 
Ngày 17/9/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 05/2/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Theo đó, luật sư trợ giúp pháp lý theo yêu cầu của Nhà nước bằng hình thức tham gia tố tụng sẽ được bồi dưỡng 500.000 đồng/buổi làm việc hoặc khoán chi theo vụ việc với mức tối thiểu bằng 03 tháng lương cơ sở và mức tối đa là 10 tháng lương cơ sở (tùy tính chất, nội dung vụ việc). Trợ giúp viên pháp lý được hưởng phụ cấp trách nhiệm theo nghề bằng 25% mức lương hiện hưởng cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp vượt khung (nếu có). Khi tham gia tố tụng Trợ giúp viên pháp lý được hưởng chế độ bồi dưỡng vụ việc bằng 40% mức bồi dưỡng áp dụng đối với luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo yêu cầu của Nhà nước. Khi thực hiện đại diện ngoài tố tụng, hòa giải, Trợ giúp viên pháp lý được hưởng chế độ bồi dưỡng vụ việc bằng 20% mức bồi dưỡng áp dụng đối với luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo yêu cầu của Nhà nước. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 10/11/2015.
 
Ngày 24/9/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 82/2015/NĐ-CP quy định về việc miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài là vợ, chồng, con của người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc của công dân Việt Nam. Theo đó, điều kiện miễn thị thực cho các đối tượng trên là có hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế còn hiệu lực ít nhất 01 năm; có giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng được miễn thị thực và không thuộc các trường hợp chưa cho nhập cảnh và tạm hoãn xuất cảnh. Cụ thể, người nhập cảnh Việt Nam thăm người thân, giải quyết riêng sẽ được cấp Giấy miễn thị thực có thời hạn tối đa không quá 05 năm và ngắn hơn thời hạn sử dụng của hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế của người được cấp ít nhất 06 tháng. Giấy miễn thị thực được cấp riêng cho từng người; riêng trẻ em có chung hộ chiếu với cha hoặc mẹ được cấp chung với cha hoặc mẹ. Đặc biệt, người nhập cảnh bằng Giấy miễn thị thực sẽ được cấp Giấy chứng nhận tạm trú 06 tháng cho mỗi lần nhập cảnh; nếu giấy miễn thị thực còn thời hạn dưới 06 tháng thì cấp chứng nhận tạm trú bằng thời hạn của giấy miễn thị thực. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/11/2015.
 
Ngày 01/10/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 85/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về chính sách đối với lao động nữ. Theo đó, lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu đến thai nhi được phép đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Tuy nhiên, trước khi đơn phương chấm dứt hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng, lao động nữ phải báo trước cho người sử dụng lao động, kèm theo ý kiến đề nghị của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi. Thời hạn báo trước theo thời hạn của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định; trường hợp không có chỉ định của cơ sở có thẩm quyền về thời gian tạm nghỉ, hai bên tự thỏa thuận về thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, mỗi ngày được nghỉ 60 phút trong thời gian làm việc để cho con bú, vắt, trữ sữa, nghỉ ngơi; thời gian nghỉ này vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động… Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/11/2015.
 
 
Ngày 13/8/2015, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 28/2015/QĐ-UBND về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 03/2010/QĐ-UBND ngày 08/3/2010 của UBND tỉnh Quảng Bình ban hành Quy định về quản lý sử dụng xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh và các loại xe tương tự hoạt động vận chuyển hành khách, hàng hoá trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Theo đó, tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh vận chuyển hành khách, hàng hóa bằng xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh và các loại xe tương tự thực hiện theo quy định của pháp luật về ngành nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh. Xe thô sơ và các xe tương tự chỉ được phép hoạt động trong phạm vi huyện, thành phố, thị xã nơi đăng ký quản lý. Xe súc vật kéo không được hoạt động trong nội thành, nội thị. Các điểm dừng, đỗ xe, đón trả khách và hàng hóa đảm bảo an toàn theo quy định. Xe gắn máy, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh và các loại xe tương tự được phép hoạt động đến huyện, thành phố liền kề với nơi đăng ký quản lý. UBND các huyện, thành phố, thị xã quy định cụ thể phạm vi, tuyến đường hoạt động, thời gian hoạt động; các điểm đỗ xe, đón trả khách và hàng hóa để bảo đảm trật tự an toàn giao thông tại địa phương. Xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô hai bánh, mô tô ba bánh và các loại xe tương tự vận chuyển hành khách, hàng hóa hoạt động trên địa bàn huyện, thành phố, thị xã nào thì phải tuân theo quy định của địa bàn đó… Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 24/8/2015.
 
Ngày 25/9/2015, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 30/2015/QĐ-UBND về việc quy định nội dung chi, mức chi cho công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp; công tác hòa giải ở cơ sở; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Theo đó, các nội dung chi, mức chi có tính chất đặc thù đối với công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL; công tác hòa giải ở cơ sở; công tác PBGDPL và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở như chi hội thảo, tọa đàm, tập huấn; chi soạn thảo viết báo cáo, chi xây dựng chương trình, đề án; tổ chức Hội thi, cuộc thi… áp dụng mức chi tại các Phụ lục I, II và III ban hành kèm theo Quyết định số30/2015/QĐ-UBND. Các nội dung chi, mức chi khác áp dụngtheo quy định tại Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTP-BTC; Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP; Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP của Bộ tài chính, Bộ Tư pháp. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 06/10/2015.
 
Ngày 29/9/2015, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 31/2015/QĐ-UBND ban hành quy định trình tự, thủ tục xét, cho phép sử dụng thẻ đi lại của doanh nhân APEC trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Theo đó, quy định này quy định về đối tượng, điều kiện, trình tự, thủ tục và trách nhiệm của các cơ quan trong việc xét, cho phép sử dụng thẻ đi lại của doanh nhân APEC (sau đây viết tắt là thẻ ABTC) đối với doanh nhân Việt Nam đang làm việc tại các doanh nghiệp được thành lập tại tỉnh Quảng Bình và cán bộ, công chức, viên chức nhà nước có nhiệm vụ tham dự các cuộc họp, hội nghị và các hoạt động về hợp tác, phát triển kinh tế của APEC. Bên cạnh đó, Quy định cũng nêu rõ thẩm quyền xét, cho phép sử dụng thẻ ABTC; hồ sơ xét cho phép sử dụng thẻ ABTC; quy trình giải quyết cấp thẻ ABTC; trách nhiệm và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc cấp thẻ ABTC; trách nhiệm của cơ quan, doanh nghiệp khi sử dụng thẻ ABTC... Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 06/10/2015.
 
* Các chính sách có hiệu lực từ tháng 9/2015
Hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 09/7/2015 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm có hiệu lực từ 01/9/2015.Theo Nghị định, người lao động là người dân tộc thiểu số; người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc hộ bị thu hồi đất nông nghiệp; thân nhân của người có công với cách mạng có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được hỗ trợ: Học nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết (riêng người lao động thuộc các huyện nghèo được hỗ trợ thêm tiền ở và trang cấp đồ dùng cá nhân thiết yếu); hỗ trợ chi phí làm thủ tục hộ chiếu, visa, khám sức khoẻ, lý lịch tư pháp trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo quy định hiện hành; hỗ trợ rủi ro trong thời gian làm việc ở nước ngoài theo quy định hiện hành; hỗ trợ chi phí đào tạo, nâng cao trình độ tay nghề trong trường hợp nước tiếp nhận yêu cầu. Người lao động thuộc hộ nghèo, hộ bị thu hồi đất nông nghiệp và người lao động là người dân tộc thiểu số được vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng từ Ngân hàng chính sách xã hội theo quy định của pháp luật. Người lao động thuộc hộ cận nghèo, người lao động là thân nhân của người có công với cách mạng được vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng từ Quỹ quốc gia về việc làm theo quy định tại Mục 3 Chương V Nghị định này…
 
Hộ nghèo được giảm 80% phí thi hành án
Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực từ ngày 01/9/2015.Theo Nghị định này, có 7 trường hợp người được thi hành án (THA) không phải chịu phí THA khi được nhận các khoản tiền, tài sản; giảm đến 80% phí THA đối với người được THA có khó khăn về kinh tế thuộc chuẩn hộ nghèo. Giảm 30% phí thi hành án tương ứng với số tiền thực nhận từ việc xử lý tài sản của người phải thi hành án mà người được thi hành án xác minh chính xác khi yêu cầu thi hành án và cơ quan thi hành án dân sự xử lý được tài sản để thi hành án mà không phải áp dụng biện pháp cưỡng chế cần huy động lực lượng, trừ trường hợp tài sản đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài thương mại. Giảm 20% phí thi hành án trong trường hợp người được thi hành án xác minh chính xác khi yêu cầu thi hành án và cơ quan thi hành án dân sự xử lý được tài sản để thi hành án nhưng phải áp dụng biện pháp cưỡng chế cần huy động lực lượng, trừ trường hợp tài sản đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài thương mại…
 
Chính sách mới đối với lao động dôi dư
Theo Nghị định 63/2015/NĐ-CP ngày 22/7/2015 của Chính phủ quy định chính sách đối với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, có hiệu lực từ ngày 15/9/2015, thì chính sách đối với người lao động dôi dư được tuyển dụng lần cuối cùng trước ngày 21/4/1998 hoặc trước ngày 26/04/2002 được hưởng chế độ ưu đãi như sau: Người lao động dôi dư từ đủ 55 tuổi đến đủ 59 tuổi đối với nam, từ đủ 50 tuổi đến đủ 54 tuổi đối với nữ và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu theo quy của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và được hưởng thêm chế độ sau: Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do nghỉ hưu trước tuổi; trợ cấp 03 tháng tiền lương cho mỗi năm (đủ 12 tháng, không kể tháng lẻ) nghỉ hưu trước tuổi; hỗ trợ 01 tháng lương cơ sở do Chính phủ quy định cho mỗi năm làm việc có đóng bảo hiểm xã hội. 2. Người lao động dôi dư trên 59 tuổi đến dưới 60 tuổi đối với nam, trên 54 tuổi đến dưới 55 tuổi đối với nữ và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu theo quy định tại Khoản 1 Điều 50 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 (đối với trường hợp nghỉ hưu trước ngày 01 tháng 01 năm 2016), theo Khoản 4 Điều 54 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 (đối với trường hợp nghỉ hưu từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 trở về sau) và được hưởng thêm chế độ sau: Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do nghỉ hưu trước tuổi; hỗ trợ 0,5 tháng lương cơ sở do Chính phủ quy định cho mỗi năm làm việc có đóng bảo hiểm xã hội…
 
Hướng dẫn về mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp
Theo Thông tư số 28/2015/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Điều 52 của Luật Việc làm và một số điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 15/9/2015, thì mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của người lao động được xác định như sau: Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng = Mức lương bình quân của 6 tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi thất nghiệp x 60%. Trường hợp những tháng cuối cùng trước khi thất nghiệp, người lao động có thời gian gián đoạn đóng bảo hiểm thất nghiệp thì 06 tháng liền kề để tính mức hưởng trợ cấp thất nghiệp là bình quân tiền lương của 06 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của người lao động tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật Lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động…Các chế độ quy định tại Thông tư này được áp dụng từ ngày 01/01/2015.
 Phòng XD & THVB QPPL

 

More