Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 3

  • Hôm nay 641

  • Tổng 9.209.805

Một số kiến nghị, đề xuất qua 05 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Post date: 17/11/2016

Font size : A- A A+
Qua 05 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế (Nghị định số 55/2011/NĐ-CP) trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã có những chuyển biến, bước đầu đạt một số kết quả.

Hiện nay, tỉnh Quảng Bình có 96 cán bộ làm công tác pháp chế đều có trình độ từ Đại học trở lên, trong đó có 01 cơ quan thành lập được Phòng pháp chế, các cơ quan còn lại đều bố trí kiêm nhiệm. Trên cơ sở nhiệm vụ được giao, hàng năm các tổ chức, cán bộ phụ trách pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnhđã chủ động tham mưu giúp Thủ trưởng cơ quan, đơn vị lập đề nghị đưa vào Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh liên quan đến lĩnh vực QLNN của sở, ngành mình. Phối hợp với các bộ phận chuyên môn tham mưu giúp Thủ trưởng đơn vị xây dựng dự thảo văn bản QPPL hoặc tham gia góp ý dự thảo văn bản QPPL thuộc ngành, lĩnh vực mình do UBND tỉnh phân công. Nhờ vậy, công tác xây dựng văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh thực hiện cơ bản tuân thủ đúng quy trình, quy định của pháp luật; chất lượng các văn bản soạn thảo ngày càng được nâng cao, các văn bản ban hành đã bám sát với tình hình thực tế của địa phương và bảo đảm hợp hiến, hợp pháp, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành. Cán bộ pháp chế các cơ quan chuyên môn đã tham mưu trình cấp có thẩm quyền ban hành 75 Nghị quyết, 168 Quyết định và 03 Chỉ thị; đã rà soát 5.228 văn bản QPPL theo Hiến pháp năm 2013; đã rà soáttheo chuyên đề, lĩnh vực 2.393 văn bản QPPL; tham mưu UBND tỉnh công bố 976 văn bản hết hiệu lực thi hành; đã rà soát hệ thống hóa 557 văn bản do HĐND, UBND tỉnh ban hành từ ngày 01/01/2001 đến 31/12/2013 với 474 văn bản còn hiệu lực thi hành, 83 văn bản hết hiệu lực thi hành; đưa vào danh mục kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới thay thế 21 văn bản; đã thực hiện tự kiểm tra 181 văn bản. Về công tác PBGDPL, đã tổ chức hơn 100.672 hội nghị, cuộc họp, buổi nói chuyện tuyên truyền, phổ biến, quán triệt văn bản pháp luật với khoảng 5.420.385 lượt người tham dự. Cán bộ pháp chế các cơ quan chuyên môn đã tham mưu ban hành các kế hoạch lồng ghép nội dung hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp vào nội dung hoạt động của ngành mình. Thông qua công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đã góp phần định hướng, nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật, giúp doanh nghiệp hoạt động và phát triển dựa trên một nền tảng pháp lý ổn định. Với sự hỗ trợ từ phía cơ quan có thẩm quyền, doanh nghiệp yên tâm hơn về tính pháp lý trong hoạt động của mình, giúp doanh nghiệp kinh doanh phát triển, góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.
Tuy nhiên, qua 05 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh vẫn còn có những điểm hạn chế, khó khăn cần khắc phục trong quá trình áp dụng như: Theo quy định tại Nghị định số 55/2011/NĐ-CP thì việc thành lập tổ chức pháp chế ở 14 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh là bắt buộc. Trong khi đó, tại các Thông tư liên tịch hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh giữa Bộ Nội vụ và Bộ quản lý chuyên ngành thì trong cơ cấu tổ chức của 14 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh không quy định có Phòng pháp chế, vì vậy quá trình triển khai không thực hiện được. Hiện nay, công chức, cán bộ và viên chức pháp chế chưa được hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề. Một số quy định trong Nghị định số 55/2011/NĐ-CP còn bất cập, như. Tiêu chuẩn cán bộ pháp chế quy định trong Nghị định số 55/2011/NĐ-CP khó thực hiện và không phù hợp thực tế ở địa phương, nhất là ở một số cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, những cơ quan có tính chất chuyên ngành như y tế, tài chính, công thương, giao thông vận tải, thông tin truyền thông, xây dựng…, thì việc sử dụng người làm công tác pháp chế có trình độ cử nhân luật thuần túy không phù hợp với yêu cầu công việc trong từng lĩnh vực cụ thể. Quan hệ phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ pháp chế giữa các cơ quan chuyên môn để thực hiện nhiệm vụ pháp chế chưa được quy định rõ ràng, chặt chẽ...
Để thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới đạt kết quả tốt, theo chúng tôi cần thực hiện tốt những nội dung sau:
Thứ nhất, về các nội dung cần phải sửa đổi, bổ sung nhằm xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 55/2011/NĐ-CP
Nhằm từng bước kiện toàn tổ chức pháp chế và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác pháp chế tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh, đảm bảo đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ được giao và phù hợp với khả năng bố trí biên chế của tỉnh, Bộ Tư pháp tham mưu cho Chính phủ cần rà soát, đánh giá một cách khách quan, toàn diện kết quả 05 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP. Trên cơ sở những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn ở địa phương để sửa đổi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền, yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật. Trong đó, cần quy định rõ, có tính khả thi việc thành lập Phòng hoặc bố trí cán bộ chuyên trách về công tác pháp chế trong các cơ quan chuyên môn; tiêu chuẩn của người làm công tác pháp chế; chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với cán bộ phụ trách công tác pháp chế.
Thứ hai, về cơ chế phối hợp trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức pháp chế
Công tác quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật được xác định là một nhiệm vụ quan trọng, gắn với yêu cầu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, đây không chỉ là một nhiệm vụ của ngành tư pháp mà còn là nhiệm vụ của cán bộ pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh. Vì vậy, đề nghị sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP trên cơ sở quy định rõ mối quan hệ phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ pháp chế giữa các cơ quan chuyên môn trong công tác phối hợp thực hiện nhiệm vụ pháp chế trên địa bàn.
Thứ ba, về công tác củng cố, kiện toàn tổ chức; bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ pháp chế, trình độ cán bộ; công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho hoạt động pháp chế, chế độ chính sách đối với người làm công tác pháp chế.
Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ chỉ đạo, hướng dẫn thống nhất việc thành lập phòng hoặc bố trí biên chế phụ trách công tác pháp chế đảm bảo thực hiện đồng bộ, thống nhất trên toàn quốc để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác pháp chế trong thời gian tiếp theo. Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cần tăng cường tập huấn bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ phụ trách công tác pháp chế theo chuyên đề, lĩnh vực để nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác pháp chế và cơ quan quản lý nhà nước về công tác pháp chế; tăng cường tổ chức các hội nghị để chia sẻ kinh nghiệm, tập huấn, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ; cung cấp thông tin, tài liệu cho công chức, viên chức làm công tác pháp chế; chú trọng hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện công tác pháp chế tại các địa phương.
       Luật gia Lê Phương