Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 1

  • Hôm nay 4332

  • Tổng 9.203.132

Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Post date: 18/03/2020

Font size : A- A A+

(Giải pháp đã được Ban Tổ chức Cuộc thi Tìm kiếm sáng kiến, giải pháp cải cách hành chính năm 2019 tỉnh Quảng Bình công nhận đạt giải Nhì tại Quyết định số 25/QĐ-BTCCT ngày 19/02/2020)

1. Mô tả nội dung giải pháp
- Sự cần thiết, mục đích của việc đề xuất giải pháp
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch là một trong những yêu cầu quan trọng của nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân đã được Đảng ta xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và được Bộ Chính trị cụ thể hóa bằng các mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” và hiện nay được Chính phủ thể chế hóa, chi tiết hóa trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 tại Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011.
Theo đó, một trong 06 nhiệm vụ của công tác cải cách hành chính là nhiệm vụ cải cách thể chế, trong đó nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật; đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luậtnhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ, cụ thể và khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật được Chính phủ đặt lên hàng đầu. Nhiệm vụ này bao gồm:
“a) Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung;
b) Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trước hết là quy trình xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định, thông tư và văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ, cụ thể và khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật;
c) Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách, trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự công bằng trong phân phối thành quả của đổi mới, của phát triển kinh tế - xã hội;
d) Hoàn thiện thể chế về sở hữu, trong đó khẳng định rõ sự tồn tại khách quan, lâu dài của các hình thức sở hữu, trước hết là sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu khác nhau trong nền kinh tế; sửa đổi đồng bộ thể chế hiện hành về sở hữu đất đai, phân định rõ quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất, bảo đảm quyền của người sử dụng đất;
đ) Tiếp tục đổi mới thể chế về doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là xác định rõ vai trò quản lý của Nhà nước với vai trò chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước; tách chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước với chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; hoàn thiện thể chế về tổ chức và kinh doanh vốn nhà nước;
e) Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về xã hội hóa theo hướng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia cung ứng các dịch vụ trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh;
g) Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp;
h) Xây dựng, hoàn thiện quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, trọng tâm là bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, lấy ý kiến của nhân dân trước khi quyết định các chủ trương, chính sách quan trọng và về quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước.”.
Thời gian qua, lĩnh vực cách thể chế của tỉnh Quảng Bình đã đạt được nhiều kết quả đáng kể, điểm số và thứ hạng qua hàng năm của tỉnh đối với lĩnh vực này luôn xếp nhóm đầu toàn quốc (Năm 2016 đạt 93,33/10 điểm xếp thứ 16/63, năm 2017 đạt 8,26/10 điểm xếp thứ 18/63, năm 2018 đạt 8,26/10 điểm xếp thứ 25/63). Tuy nhiên, kết quả này không ổn định và có xu hướng giảm hạng. Mặt khác, để tiếp tục duy trì và cải thiện thứ hạng đối với lĩnh vực này góp phần cải thiện về điểm số, nâng cao thứ hạng đối với công tác cải cách hành chính của toàn tỉnh nói chung thì việc lựa chọn giải pháp “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật” là cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
- Thực trạng công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh trong thời gian qua
Triển khai thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2002, gọi tắt là Luật năm 1996); Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân năm 2004 (gọi tắt là Luật năm 2004) và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (thay thế Luật năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2002, gọi tắt là Luật năm 2008); Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (gọi tắt là Luật năm 2015) cùng với việc quán triệt, cụ thể hóa và triển khai thực hiện nghiêm túc các mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, định hướng, giải pháp xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đã được nêu trong Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đã có sự chuyển biến về nhận thức và nâng cao trách nhiệm của công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Các chủ trương, nghị quyết của các cấp ủy đảng, Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương đã được thể chế hóa, cụ thể hóa kịp thời, đồng bộ, phù hợp tình hình thực tiễn của địa phương, đáp ứng cơ bản yêu cầu quản lý, điều hành của chính quyền địa phương bằng pháp luật.
Nhiều văn bản có đối tượng, phạm vi điều chỉnh rộng, tác động trực tiếp đến quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; các chế độ chính sách; quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động thu hút đầu tư được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và các luật, bộ luật cụ thể hóa Hiến pháp. Đặc biệt, các văn bản của HĐND, UBND ban hành tập trung vào các lĩnh vực tổ chức bộ máy, chính sách cán bộ; chế độ, định mức, tiêu chuẩn, chính sách thu hút đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; phí, lệ phí, giá dịch vụ; tài nguyên môi trường; cung cấp dịch vụ hành chính công đã thể chế hóa, cụ thể các chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp được đề ra trong 03 Chương trình trọng điểm của tỉnh được xác định tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đó là: Chương trình đổi mới công tác cán bộ, chương trình phát triển du lịch, chương trình giảm nghèo phát triển bền vững.
Quá trình tham mưu xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan, đơn vị, địa phương cơ bản đã tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật, từ việc ban hành chương trình xây dựng pháp luật, đến việc tổ chức soạn thảo, lấy ý kiến của các cơ quan, đơn vị, địa phương có liên quan, lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động của văn bản và ý kiến thẩm định của cơ quan Tư pháp cùng cấp, ý kiến thẩm tra của các ban của Hội đồng nhân dân (đối với Nghị quyết) trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Từ những kết quả đạt được trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã có tác động tích cực đến kết quả thực hiện các nhiệm vụ trong công tác dân chủ, dân vận chính quyền; đảm bảo tính công khai, minh bạch trong xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật; tạo điều kiện để Mặt trận và các tổ chức thành viên của Mặt trận cũng như Nhân dân tham gia giám sát, phản biện xã hội. Đồng thời, góp phần nâng cao hiệu quả công tác cải cách hành chính, cải cách tư pháp, nâng cao thứ hạng và điểm số trong các Bộ chỉ số đo lường năng lực điều hành, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của địa phương, cụ thể các chỉ số này trong năm 2018 được thể hiện như sau:
- Đối với chỉ số cải cách hành chính, năm 2018 theo kết quả đánh giá, xếp hạng do Bộ Nội vụ công bố thì lĩnh vực xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh ta đạt 8,62/10 điểm, xếp thứ 25/63 tỉnh, thành phố, trong đó điểm số cho công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện văn bản QPPL đạt điểm tối đa 5,0/5,0 điểm.
- Đối với chỉ số PCI, trong 10 chỉ số thành phần với 128 chỉ tiêu thì một số chỉ tiêu liên quan đến việc xây dựng, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật của địa phương tăng hạng, góp phần nâng cao điểm số của địa phương như: So với năm 2017 thì năm 2018 chỉ số tính minh bạch tăng 43 bậc xếp thứ 17/63; chỉ tiêu vai trò của Hội Doanh nghiệp địa phương trong việc xây dựng và phản biện chính sách, quy định của tỉnh tăng 12 bậc xếp thứ 18/63; chỉ tiêu các tài liệu về ngân sách đủ để doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh tăng 21 bậc xếp thứ 20/63...
- Đối với 08 chỉ số trong Bộ chỉ số PAPI (gồm (1) tham gia của người dân ở cấp cơ sở;(2) công khai, minh bạch;(3) trách nhiệm giải trình với người dân; (4) kiểm soát tham nhũng khu vực công; (5) thủ tục hành chính công; (6) cung ứng dịch vụ công; (7) quản trị môi trường; (8) quản trị điện tử) thì chỉ số thủ tục hành chính công năm 2018 của tỉnh ta đạt 7,65 điểm (bao gồm cả việc rà soát, thẩm định quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thực hiện thủ tục hành chính với người dân, doanh nghiệp) nằm trong nhóm các tỉnh đạt điểm cao nhất toàn quốc.
Toàn bộ văn bản sau khi được HĐND, UBND ban hành đều được cơ quan Tư pháp cùng cấp kiểm tra, phối hợp kiểm tra, rà soát để kịp thời phát hiện những sai sót, mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của địa phương để kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, ban hành mới cho phù hợp. Tuy nhiên, quá trình thực hiện ở địa phương vẫn còn một số tồn tại, hạn chế:
Về chất lượng, tính khả thi của dự thảo văn bản: Một số dự thảo văn bản chất lượng soạn thảo còn thấp; một số quy định trong dự thảo còn thiếu căn cứ pháp lý, căn cứ thực tiễn; chưa bám sát hết nội dung, yêu cầu được giao, giới hạn thẩm quyền được giao của văn bản cấp trên. Vì vậy, một số quy định khi dự thảo chưa phù hợp với quy định của văn bản cấp trên, tình hình thực tiễn của địa phương. Việc tổng kết, đánh giá tình hình thực tiễn trong lĩnh vực được giao quản lý chưa thực hiện đầy đủ, nghiêm túc; chưa dự ước được mức độ tác động, ảnh hưởng của văn bản sau khi ban hành; chưa có số liệu chứng minh sự cần thiết, tính khả thi của văn bản. Vì vậy, một số quy định trong dự thảo văn bản chưa thuyết phục, thiếu tính khả thi, văn bản đã thực hiện xong quy trình dự thảo nhưng không thể ban hành được.
Về tính kịp thời: Các cơ quan, đơn vị chưa chủ động rà soát các Nghị định, Thông tư giao nhiệm vụ cho địa phương quy định chi tiết đối với nhiệm vụ thuộc ngành, lĩnh vực mình phụ trách, vì vậy chưa chủ động và thiếu kịp thời trong việc tham mưu ban hành văn bản quy định chi tiết. Nhiều văn bản cấp trên có nội dung giao địa phương quy định chi tiết đã ban hành và có hiệu lực từ nhiều năm nhưng đến nay mới tham mưu hoặc chưa tham mưu ban hành. Nhiều dự thảo văn bản đã được HĐND, UBND giao theo chương trình, kế hoạch nhưng tỷ lệ xin lùi, gia hạn hoặc trình chậm, trình quá hạn còn nhiều.
Về việc xác định nội dung, lĩnh vực góp ý trong dự thảo: Hầu hết các hồ sơ dự thảo khi lấy ý kiến góp ý các cơ quan, đơn vị có liên quan, đối tượng chịu sự tác động của văn bản chưa xác định rõ các nội dung, lĩnh vực cần lưu ý để góp ý; chưa tổng hợp, tiếp thu, giải trình đầy đủ và làm rõ các ý kiến góp ý; chưa đánh giá tác động chính sách nên quá trình góp ý, thẩm định gặp nhiều khó khăn.
Về công tác phối hợp trong rà soát văn bản: Một số cơ quan, đơn vị chưa thực hiện nghiêm túc việc rà soát văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND ban hành thuộc lĩnh vực mình phụ trách (rà soát theo căn cứ pháp lý và rà soát theo tình hình kinh tế - xã hội); vì vậy, chưa kịp thời phát hiện những nội dung trái, mâu thuẫn, chồng chéo với quy định của văn bản cấp trên hoặc nội dung không phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Sau khi rà soát, các cơ quan, đơn vị chưa chủ động gửi kết quả rà soát về cơ quan Tư pháp để tổng hợp chung, phối hợp tham mưu cấp có thẩm quyền xử lý.
Quá trình rà soát, một số cơ quan, đơn vị rà soát, manh mún, nhỏ lẻ theo từng lĩnh vực mà chưa thực hiện rà soát toàn diện, tổng thể văn bản thuộc lĩnh vực mình phụ trách để tham mưu xử lý một lần (sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới), dẫn đến việc tham mưu cấp có thẩm quyền xử lý văn bản nhiều lần gây lãng phí về thời gian, nhân lực, kinh phí.
- Mô tả giải pháp mới
Để khắc phục các tồn tại, hạn chế nêu trên, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ngoài các giải pháp mang tính tổng thể, nguyên tắc như:
- Tiếp tục đôn đốc, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị quan tâm, nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp, chuyên sâu trong công tác soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật.
- Người đứng đầu cơ quan được giao chủ trì soạn thảo phải đặc biệt chú trọng và đề cao vai trò trách nhiệm trong suốt quá trình xây dựng văn bản từ khâu soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, chỉnh lý, hoàn thiện cho đến khi thông qua; trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm toàn bộ về nội dung, chất lượng, tiến độ trình các dự thảo do cơ quan mình chủ trì.
- Phát huy cơ chế phản biện xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân, doanh nghiệp tham gia ý kiến góp ý xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của địa phương. Tôn trọng, tiếp thu nghiêm túc ý kiến của các các tầng lớp nhân dân trên địa bàn đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
- Thường xuyên kiện toàn đội ngũ làm công tác xây dựng pháp luật theo hướng chuyên nghiệp, đảm bảo về số lượng, có chất lượng về chuyên môn, nghiệp vụ, nhạy bén trong phản ứng chính sách. Đồng thời, tổ chức bồi dưỡng chuyên sâu về nghiệp vụ ban hành văn bản, kỹ năng xây dựng, phân tích chính sách cho đội ngũ này, trong đó cần chú trọng đánh giá tác động của chính sách trên địa bàn để có hướng điều chỉnh kịp thời, đưa các quy định của luật gắn với thực tiễn cuộc sống.
Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước, xã hội hóa và các nguồn tài chính khác nhằm thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng hoàn thiện pháp luật ở địa phương.
Bản thân tôi đề xuất thêm các giải pháp cụ thể, mang tính thực tiễn, góp phần khắc phục các vướng mắc, hạn chế nêu trên trong thời gian qua nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính chuyên nghiệp, chuyên sâu trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể như sau:
Thứ nhất, đối với việc đề xuất ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Việc đề xuất ban hành văn bản QPPL phải đảm bảo cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn; dự liệu được hết các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng thực hiện; tính toán kỹ về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nội dung, các chính sách trong đề xuất xây dựng văn bản, đảm bảo tính khả thi sau khi văn bản được ban hành.
Trước khi xây dựng dự thảo phải tiến hành đánh giá, tổng kết một cách cụ thể, khách quan, toàn diện lĩnh vực dự kiến tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật, để ngay từ giai đoạn này khẳng định được có hay không, nên hay không nên tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này, tránh tình trạng tổ chức thực hiện soạn thảo, triển khai lấy ý kiến góp ý, ý kiến thẩm định, sau đó mới nhận thấy (hoặc qua công tác góp ý, thẩm định) cho thấy nội dung trong dự thảo thiếu căn cứ pháp lý, không khả thi hoặc không cần thiết ban hành làm mất nhiều thời gian, nhân lực cho công đoạn này.
Thứ hai, nâng cao tính chủ động, kịp thời trong rà soát văn bản cấp trên để tham mưu ban hành văn bản quy định chi tiết hoặc tham mưu bãi bỏ:
Đối với văn bản của trung ương, các cơ quan, đơn vị chủ động, kịp thời rà soát các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên liên quan đến ngành, lĩnh vực thuộc cơ quan, đơn vị mình quản lý để kịp thời, chủ động tham mưu thực hiện quy trình ban hành văn bản quy định chi tiết, tránh tình trạng khối lượng văn bản nhiều không rà soát hết.
Đối với văn bản do HĐND, UBND ban hành các cơ quan, đơn vị thường xuyên rà soát để phát hiện các nội dung trái, mâu thuẫn, chồng chéo với văn bản cấp trên hoặc có nội dung không phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để tham mưu xử lý. Qua kết quả rà soát, đối với các văn bản cần bãi bỏ các cơ quan, đơn vị gửi kết quả về Sở Tư pháp để tổng hợp, tham mưu UBND tỉnh ban hành văn bản bãi bỏ một lần, hạn chế tình trạng, mỗi cơ quan, đơn vị đều tham mưu UBND tỉnh một văn bản bãi bỏ văn bản trong lĩnh vực mình thì mất nhiều thời gian, nhân lực, kinh phí cho quá trình soạn thảo, lấy ý kiến góp ý, ý kiến thẩm định, thẩm tra và kinh phí thực hiện cho các công đoạn này. Giải pháp này vừa phù hợp với thực tiễn, vừa phù hợp với quy định của pháp luật về rà soát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật Thủ trưởng các cơ quan đã chủ trì soạn thảo văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Ban pháp chế Hội đồng nhân dân, Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng Phòng Tư pháp và các cơ quan liên quan thực hiện rà soát, hệ thống hóa văn bản. Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng Phòng Tư pháp có trách nhiệm đôn đốc, hướng dẫn, tổng hợp kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản chung của Hội đng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp mình.
Thứ ba, đối với văn bản cần sửa đổi, bổ sung:
Trong công tác rà soát văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, cần thực hiện rà soát toàn diện, tổng thể. Nếu thực hiện việc rà soát theo từng nhóm lĩnh vực và sau đó tham mưu sửa đổi, bổ sung từng lĩnh vực thì mất nhiều thời gian, nhân lực, kinh phí. Thay vào đó, các cơ quan, đơn vị tiến hành rà soát toàn diện, tổng thể các văn bản QPPL thuộc lĩnh vực đơn vị mình quản lý sau đó tổng hợp dự thảo một văn bản chung để sửa đổi, bổ sung cho tất cả các lĩnh vực. Với giải pháp này vừa tiết kiệm thời gian, đồng thời vừa đảm bảo nguyên tắc theo quy định tại Khoản 3 Điều 12 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 Một văn bản quy phạm pháp luật có thể được ban hành để đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ nội dung trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật do cùng cơ quan ban hành.
2. Khả năng áp dụng giải pháp
Các giải pháp nêu trên được đề ra qua quá trình theo dõi, tổng hợp, phân tích kết quả từ thực tiễn trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn kết hợp với các quy định mang tính lý luận, nguyên tắc của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Do đó, có khả năng áp dụng rộng rãi trên thực tế cho các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, UBND cấp huyện, cấp xã trong quá trình tham mưu ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước ở địa phương.
3. Tính khả thi, hiệu quả, lợi ích thu được
- Về tính khả thi
Các giải pháp nêu trên được đề ra trên cơ sở thực tiễn trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn; dựa trên các quy định của pháp luật về yêu cầu, nguyên tắc trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Các giải pháp trên có tính mới, sáng tạo; đồng thời, dễ nhớ, dễ thực hiện nên có khả năng áp dụng rộng rãi vào thực tiễn và có tính khả thi cao.
- Về hiệu quả, lợi ích thu được
Tiết kiệm về mặt thời gian, nguồn nhân lực
Khi đưa các giải pháp nêu trên vào áp dụng trong thực tiễn, hiệu quả đầu tiên đạt được là về mặt thời gian và nguồn nhân lực.
+ Đối với tính khả thi và sự cần thiết ban hành văn bản
Trên thực tiễn, để thực hiện việc soạn thảo một dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có nội dung đơn giản, yếu tố tác động đến xã hội ít thì thời gian dành cho công tác nghiên cứu, soạn thảo của một công chức ít nhất phải mất từ 03 - 05 ngày, sau khi dự thảo phải tổ chức lấy ý kiến góp ý trong nội bộ cơ quan, lãnh đạo cơ quan, đơn vị; lấy ý kiến góp ý của các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; ý kiến thẩm định của cơ quan tư pháp. Để thực hiện các nhiệm vụ này, mỗi cơ quan, đơn vị phải giao cho ít nhất 01 công chức dành thời gian để nghiên cứu, tham gia góp ý, thẩm định với thời gian ít nhất 01 ngày/người. Như vậy, nếu ngay từ đầu ở giai đoạn sáng kiến mà không khẳng định được có hay không, nên hay không nên trong việc tham mưu dự thảo văn bản thì lượng thời gian bỏ ra trong giai đoạn này không phải là ít. Nếu ngay từ giai đoạn sáng kiến, đề xuất các cơ quan, đơn vị nghiên cứu kỹ, tổ chức tổng kết thực tiễn, đánh giá tác động của các chính sách dự kiến tham mưu ban hành (về kinh tế, về xã hội, về giới, về TTHC, về tác động tới hệ thống pháp luật), từ đó để khẳng định có hay không về sự cần thiết phải ban hành thì sẽ tiết kiệm được thời gian, nguồn nhân lực bỏ ra cho giai đoạn soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến góp ý, thẩm định, thẩm tra.
+ Đối với việc rà soát văn bản để tham mưu ban hành văn bản bãi bỏ
Trên cơ sở kết quả rà soát, nếu mỗi cơ quan sau khi thực hiện việc rà soát đều tham mưu cơ quan có thẩm quyền ban hành 01 văn bản QPPL. Với việc làm này, thì mỗi cơ quan đều phải bố trí nguồn lực, dành thời gian cho việc soạn thảo, lấy ý kiến góp ý, ý kiến thẩm định để tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực cơ quan, đơn vị mình phụ trách. Thay vào đó, trên cơ sở kết quả rà soát, các cơ quan, đơn vị gửi kết quả về cơ quan Tư pháp, cơ quan Tư pháp có nhiệm vụ tổng hợp chung, tham mưu cho cấp có thẩm quyền 01 văn bản quy phạm pháp luật để bãi bỏ tất cả các văn bản quy phạm pháp luật của tất cả các cơ quan, đơn vị có nội dung đề nghị bãi bỏ, như vậy sẽ tiết kiện được rất nhiều thời gian, nguồn lực.
+ Đối với việc ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung
Theo quy định của Luật Ban hành văn băn quy phạm pháp luật, trên cơ sở kết quả rà soát, các sở, ban ngành có trách nhiệm tham mưu cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các văn bản đang còn hiệu lực thi hành nhưng có nội dung trái, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không phù hợp với văn bản cấp trên hoặc thực tiễn tình hình kinh tế - xã hội của địa phương.
Thực trạng này thời gian qua các cơ quan, đơn vị đang thực hiện theo hướng “cắt khúc”, chia theo lĩnh vực, nghĩa là rà soát đến lĩnh vực nào thì tham mưu sửa đổi, bổ sung lĩnh vực đó, với cách làm này theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì không sai nhưng chưa khoa học và mất nhiều thời gian cho quá trình soạn thảo, lấy ý kiến góp ý, ý kiến thẩm định. Thay vào đó, các cơ quan, đơn vị tổ chức rà soát toàn diện, tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực hoặc nhóm lĩnh vực thuộc ngành mình quản lý sau đó tham mưu cho cấp có thẩm quyền ban hành 01 văn bản quy phạm pháp luật để sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Với cách làm này vừa tiết kiệm được thời gian, nguồn nhân lực cho quá trình soạn thảo, lấy ý kiến góp ý, ý kiến thẩm định, ý kiến thẩm tra đồng thời phù hợp với quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
 Tiết kiệm về mặt kinh phí
Hiện nay, kinh phí chi cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật thực hiện theo Thông tư số 338/2016/TT-BTC ngày 28/12/2016 của Bộ Tài chính. Theo đó, định mức chi cho các nội dung trong các hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân gồm:
1. Đối với chi soạn thảo đề cương chi tiết:
- Văn bản mới hoặc thay thế: Mức chi 950.000 đồng/đề cương;
- Văn bản sửa đổi, bổ sung: Mức chi 650.000 đồng/đề cương.
          2. Đối với chi cho công tác soạn thảo:
- Văn bản mới hoặc thay thế: Mức chi 3.200.000 đồng/dự thảo văn bản;
- Văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều: Mức chi 2.700.000 đồng/dự thảo văn bản.
          3. Đối với chi soạn thảo các báo cáo phục vụ công tác xây dựng văn bản và hoàn thiện văn bản:
- Báo cáo tổng hợp ý kiến; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý:
+ Văn bản mới hoặc thay thế: Mức chi 250.000 đồng/báo cáo tổng hợp ý kiến; 350.000 đồng/báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý;
+ Văn bản sửa đổi, bổ sung: Mức chi 150.000 đồng/báo cáo tổng hợp ý kiến; 250.000 đồng/báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý.
          - Đối với Báo cáo nhận xét, đánh giá của người phản biện:
+Dự thảo nghị quyết mới hoặc thay thế của Hội đồng nhân dân, quyết định mới hoặc thay thế của Ủy ban nhân dân: Mức chi 350.000 đồng/báo cáo;
+ Đối với văn bản sửa đổi, bổ sung: Mức chi 200.000 đồng/báo cáo:
          Báo cáo đánh giá tác động của chính sách hoặc báo cáo đánh giá tác động của văn bản mức chi 6.000.000 đồng/báo cáo.
4. Soạn thảo văn bản góp ý, báo cáo thẩm định, thẩm tra văn bản
- Văn bản góp ý: Mức chi 250.000 đồng/văn bản;
- Báo cáo thẩm định, báo cáo thẩm tra: Mức chi 500.000 đồng/báo cáo.
5. Chỉnh lý hoàn thiện đề cương nghiên cứu, các loại báo cáo, bản thuyết minh, Tờ trình văn bản, dự thảo văn bản: Mức chi 200.000 đồng/lần chỉnh lý.
6. Chi cho cá nhân tham gia họp, hội thảo, tọa đàm, hội nghị và họp báo:
Tham gia họp, hội thảo, tọa đàm, hội nghị phục vụ công tác xây dựng dự kiến chương trình, soạn thảo, đánh giá tác động, góp ý, thẩm định, thẩm tra văn bản; điều tra, khảo sát; theo dõi, đánh giá về tình hình thi hành pháp luật:
- Chủ trì: Mức chi 150.000 đồng/người/cuộc họp;
- Các thành viên tham dự: Mức chi 100.000 đồng/người/cuộc họp.
Ý kiến tham luận bằng văn bản của thành viên tham dự: Mức chi 200.000 đồng/văn bản.Và một số nội dung chi khác có liên quan.
Như vậy, tổng số kinh phí để chi ra cho việc ban hành 01 văn bản quy phạm pháp luật mới (giả sử là văn bản của Ủy ban nhân dân tỉnh, trong đó không tính nội dung chi cho Báo cáo đánh giá tác động, với số người dự họp là 06 người, có 03 văn bản tham luận tại cuộc họp) là: 7.300.000 đồng.
Tổng số kinh phí chi cho việc ban hành 01 văn bản quy phạm pháp luật để sửa đổi, bổ sung (giả sử là văn bản của Ủy ban nhân dân tỉnh, trong đó không tính nội dung chi cho Báo cáo đánh giá tác động, với số người dự họp là 06 người, có 03 văn bản tham luận tại cuộc họp) là: 6.150.000 đồng.
Nếu giả sử trong năm trên cơ sở kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật có 12 cơ quan, đơn vị phát hiện có 12 văn bản là quyết định của Ủy ban nhân dân cần bãi bỏ và tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành 12 văn bản quy phạm pháp luật mới để bãi bỏ thì kinh phí phải chi ra cho hoạt động này là: 12 văn bản x 7.300.000/văn bản = 87.600.000 đồng.
Trong khi đó, nếu chỉ ban hành 01 văn bản quy phạm pháp luật để bãi bỏ 12 văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở kết quả rà soát của các sở, ngành thì kinh phí chi ra là: 7.300.000 đồng.
Nếu giả sử trong lĩnh vực quản lý nhà nước của các cơ quan, đơn vị, trong năm qua rà soát có 03 văn bản cần sửa đổi, bổ sung, nếu tham mưu ban hành 03 văn bản để sửa đổi, bổ sung thì kinh phí chi ra cho hoạt động này là: 03 văn bản x 6.150.000/văn bản = 18.450.000 đồng.
Trong khi đó, nếu chỉ tham mưu ban hành 01 văn bản để sửa đổi, bổ sung 03 văn bản thì kinh phí chi ra là: 6.150.000 đồng.
Kết luận:
Trước yêu cầu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân và yêu cầu về thể chế hóa nghị quyết đại hội đảng các cấp, gắn với công tác cải cách hành chính là yêu cầu bức thiết trong công cuộc xây dựng nhà nước kiến tạo, nhà nước phục vụ trong giai đoạn hiện nay. Do đó, việc nghiên cứu, đổi mới cơ bản quy trình, thủ tục xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở các sáng kiến giải pháp phù hợp với thực tiễn và quy định của pháp luật, nhất là với Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 là yêu cầu tất yếu, nhằm tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong tham mưu xây dựng, ban hành văn bản QPPL, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn trong thời gian tới./.
Tác giả: Trà Đình Huân

 

More