Chi tiết tin - Sở Tư pháp
THÁNG 4 NĂM 2026
I.DÒNG CHẢY CHÍNH SÁCH
Một số chính sách có hiệu lực từ tháng 4 năm 2026
1. Bắt buộc xác thực tên thật tài khoản ngân hàng từ 1/4
Ngày 30/9/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 30/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung quy định về cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, chính thức yêu cầu sử dụng tên thật đối với tài khoản ngân hàng, có hiệu lực từ ngày 01/4/2026.
Theo Thông tư số 30/2025/TT-NHNN, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ tính hợp pháp của lệnh thanh toán, trong đó thông tin số tài khoản và tên tài khoản phải trùng khớp với tên thật trên Căn cước công dân hoặc thẻ Căn cước của khách hàng khi đăng ký và sử dụng tài khoản. Đồng thời, thông tin này phải được hiển thị đầy đủ trên chứng từ thanh toán nhằm đảm bảo tính minh bạch và khả năng truy vết giao dịch.
2. Bảo đảm quyền của người bị trục xuất
Ngày 13/2/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2026/NĐ-CP quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2026.
Nghị định bổ sung quyền của người bị trục xuất. Theo đó, người bị trục xuất được liên hệ, thông báo với cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của nước mà mình là công dân; được yêu cầu xem xét lại quyết định xử phạt trục xuất.
Nghị định cũng quy định cơ chế thi hành trục xuất trong trường hợp không có khả năng nộp phạt tiền. Khi người vi phạm không có tài sản hoặc không có khả năng tài chính để thi hành hình thức phạt tiền, đồng thời cần bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, thì được thi hành ngay hình thức xử phạt trục xuất và chấm dứt việc cưỡng chế sau khi đã trục xuất.
3. Chuẩn hóa khai thác dữ liệu vi phạm hành chính
Ngày 13/2/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 61/2026/NĐ-CP quy định quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính, có hiệu lực từ ngày 01/4/2026.
Nghị định cho phép tiếp nhận dữ liệu qua nhiều kênh như trực tiếp, thư điện tử, cổng thông tin điện tử, ứng dụng di động (trong đó có VNeID), dịch vụ bưu chính hoặc kết nối qua nền tảng số. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, giảm chi phí quản lý và tăng tính chủ động trong phát hiện vi phạm.
Đáng chú ý, cá nhân, tổ chức cung cấp dữ liệu được bảo đảm quyền bảo mật thông tin và có thể yêu cầu thông báo kết quả xử lý. Đồng thời, phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của dữ liệu đã cung cấp. Quy định thời hạn xác minh tối đa 30 ngày, trường hợp phức tạp không quá 60 ngày, giúp rút ngắn quy trình xử lý, nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật.
4. Trang bị phương tiện chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cơ giới không bảo đảm bị phạt tới 40 triệu đồng
Ngày 6/3/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.
Theo đó, Nghị định số 69/2026/NĐ-CP bổ sung điểm c của khoản 8 Điều 20 vi phạm quy định về trang bị, lắp đặt phương tiện phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Hành vi trang bị phương tiện chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cơ giới không bảo đảm theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Nghị định này chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 20/4/2026.
5. Quy định về miễn thi tốt nghiệp THPT môn ngoại ngữ
Ngày 9/3/2026, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế thi tốt nghiệp trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 24/2024/TT-BGDĐT ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Thông tư số 13/2026/TT-BGDĐT bổ sung 2 chứng chỉ được miễn thi ngoại ngữ là tiếng Hàn TOPIK và tiếng Anh quốc tế Versant English Placement Test (VEPT). Như vậy, số chứng chỉ được chấp nhận dùng để miễn thi ngoại ngữ khi xét tốt nghiệp THPT 2026 được nâng lên 22 gồm chứng chỉ về các ngôn ngữ: tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Đức, tiếng Nhật và tiếng Hàn. Các chứng chỉ này phải còn hiệu lực đến thời điểm thí sinh làm thủ tục dự thi tốt nghiệp THPT.
Thông tư 13/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 24/4/2026.
Phòng PBGDPL&TDTHPL
II. TIÊU ĐIỂM CHÍNH SÁCH
Hỏi đáp pháp luật về xét, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang”
1. Đối tượng áp dụng xét tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang” được quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 6 Quyết định số 01/2026/QĐ-TTg của ngày 01/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng quy định đối tượng áp dụng xét tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang” gồm:
- Thanh niên xung phong có thành tích trong các cuộc kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành nhiệm vụ, có thời gian tham gia lực lượng thanh niên xung phong tập trung từ đủ 24 tháng trở lên.
- Thanh niên xung phong hy sinh khi làm nhiệm vụ trong các cuộc kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc đã được công nhận liệt sĩ.
2. Thẩm quyền xét, đề nghị tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang” ?
Trả lời:
Điều 8 Quyết định số 01/2026/QĐ-TTg của ngày 01/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng quy định thẩm quyền xét, đề nghị tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang” như sau:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo việc thẩm định hồ sơ đề nghị xét tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang” trên địa bàn, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, đề nghị khen thưởng.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo việc thẩm định hồ sơ đề nghị tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang” trên địa bàn, trình Thủ tướng Chính phủ xét, trình Chủ tịch nước quyết định tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang” qua Bộ Nội vụ.
- Bộ Nội vụ thẩm định hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ xét, trình Chủ tịch nước quyết định tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang”.
3. Mốc thời gian để tính khen thưởng được quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 9 Quyết định số 01/2026/QĐ-TTg của ngày 01/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng quy định mốc thời gian để tính khen thưởng được quy định như sau:
- Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp từ ngày 15 tháng 7 năm 1950 đến ngày 20 tháng 7 năm 1954.
- Thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ từ ngày 21 tháng 7 năm 1954 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, bao gồm: Chống đế quốc Mỹ ở miền Bắc; chống đế quốc Mỹ ở miền Nam; làm nhiệm vụ giúp nước bạn Lào từ tháng 5 năm 1972 đến tháng 12 năm 1975.
- Thời kỳ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế:
Cá nhân trực tiếp tham gia chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu. Thời gian quy định như sau:
+ Chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam từ tháng 5 năm 1975 đến ngày 07 tháng 01 năm 1979;
+ Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc từ tháng 02 năm 1979 đến ngày 31 tháng 12 năm 1988;
+ Làm nhiệm vụ giúp nước bạn Lào từ tháng 5 năm 1975 đến ngày 31 tháng 12 năm 1988;
+ Làm nhiệm vụ quốc tế ở nước bạn Campuchia từ tháng 01 năm 1979 đến ngày 31 tháng 8 năm 1989;
+ Làm nhiệm vụ truy quét Ful-rô từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 12 năm 1992.
4. Hồ sơ đề nghị xét tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang” bao gồm những gì?
Trả lời:
Điều 11 Quyết định số 01/2026/QĐ-TTg của ngày 01/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng quy định hồ sơ đề nghị xét tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang” như sau:
- Bản khai đề nghị xét tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang”;
- Giấy tờ minh chứng: Nếu cá nhân là Thanh niên xung phong qua các thời kỳ quy định tại Điều 9 thì phải thể hiện đơn vị tham gia thanh niên xung phong và có tổng thời gian tham gia thanh niên xung phong cộng dồn đủ 24 tháng trở lên (viết tắt là: thông tin về thời gian tham gia thanh niên xung phong) hoặc nếu là liệt sĩ thì có giấy tờ chứng minh liệt sĩ khi là thanh niên xung phong.
Giấy tờ minh chứng là một hoặc một số giấy tờ sau đây đảm bảo tính pháp lý (gồm bản chính hoặc bản sao y theo quy định):
+ Lý lịch cán bộ hoặc phiếu cá nhân hoặc lý lịch đảng viên (kể cả lý lịch đảng viên của thân nhân theo quy định) có thể hiện thời gian tham gia Thanh niên xung phong khai trước thời điểm ban hành Quyết định số 104/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; riêng đối với Thanh niên xung phong cơ sở miền Nam, lý lịch khai trước năm 1995. Lý lịch đảng viên phải do cấp ủy đảng nơi đảng viên sinh hoạt xác nhận sao y bản chính;
+ Quyết định nghỉ hưu, hưởng bảo hiểm xã hội trong đó thể hiện thông tin về thời gian tham gia Thanh niên xung phong theo quy định;
+ Quyết định hưởng trợ cấp, hưởng chính sách đối với Thanh niên xung phong hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc của cơ quan có thẩm quyền ban hành;
+ Quyết định hưởng chế độ một lần theo Quyết định số 176-HĐBT ngày 09 tháng 9 năm 1989 của Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ về sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh, trong đó có thông tin về thời gian tham gia thanh niên xung phong theo quy định;
+ Giấy chứng nhận (xác nhận) Thanh niên xung phong của Tổng đội Thanh niên xung phong được cấp tại thời điểm cá nhân hoàn thành nhiệm vụ.
Riêng đối với các trường hợp Giấy chứng nhận (xác nhận) hoặc Kỷ niệm chương thanh niên xung phong của Tổng hội Thanh niên xung phong, Hội Thanh niên xung phong tỉnh, thành phố cấp sau năm 1999, trong đó thể hiện thời gian tham gia thanh niên xung phong, phiên hiệu đơn vị thanh niên xung phong phải kèm theo các căn cứ để xác nhận, cấp giấy chứng nhận;
+ Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp trước thời điểm thanh niên xung phong hoàn thành nhiệm vụ trở về địa phương như: Giấy chứng nhận hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị quản lý Thanh niên xung phong; Giấy chuyển thương, chuyển viện, phiếu sức khỏe; Giấy khen trong thời gian tham gia lực lượng Thanh niên xung phong; Giấy điều động công tác, bổ nhiệm, giao nhiệm vụ… có thông tin về thời gian tham gia thanh niên xung phong;
+ Đối với trường hợp đã được khen thưởng thành tích kháng chiến cá nhân có thể nộp: Bản sao y Bằng Huân chương Kháng chiến, Huy chương Kháng chiến, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ hoặc Bằng khen của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo Quyết định số 98/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và kèm theo bản khai thành tích khi đề nghị khen thưởng thành tích kháng chiến đó. Trong bản khai đã được xét duyệt khen thưởng kháng chiến có thông tin về thời gian tham gia thanh niên xung phong;
+ Đối với liệt sĩ: Bản sao y Bằng Tổ quốc ghi công có ghi thông tin là Thanh niên xung phong. Trường hợp Bằng Tổ quốc ghi công không ghi thông tin thanh niên xung phong thì phải có giấy tờ được cấp có thẩm quyền xác nhận liệt sĩ khi hy sinh là thanh niên xung phong (trích lục hồ sơ liệt sĩ).
- Hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (01 bộ bản chính và các tệp tin điện tử của hồ sơ đề nghị khen thưởng), gồm:
+ Tờ trình của Ủy ban nhân dân cấp xã kèm theo danh sách các trường hợp đề nghị tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang”;
+ Biên bản hội nghị xét tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang” của cấp xã;
+ Hồ sơ đề nghị của Thanh niên xung phong theo quy định 1, 2 ở trên;
+ Kết quả công khai các trường hợp đề nghị khen thưởng theo quy định.
- Hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ (01 bộ bản chính và các tệp tin điện tử của hồ sơ đề nghị khen thưởng), gồm:
+ Tờ trình của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kèm theo danh sách các trường hợp đề nghị tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang”;
+ Hồ sơ đề nghị của Thanh niên xung phong theo quy định tại 1, 2 nêu trên. Riêng bản khai phải có xác nhận của cơ quan thẩm định hồ sơ cấp tỉnh và ghi rõ thời gian xét khen thưởng.
5. Trình tự, thủ tục xét tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang” đực quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 12 Quyết định số 01/2026/QĐ-TTg của ngày 01/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng quy định Trình tự, thủ tục xét tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang” được thực hiện như sau:
- Thanh niên xung phong hoặc thân nhân của Thanh niên xung phong lập hồ sơ đề nghị theo quy định tại 1 ở trên và nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu điện 01 bộ hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi Thanh niên xung phong đăng ký cư trú (đối với trường hợp còn sống) hoặc nơi cư trú của thân nhân đứng ra kê khai cư trú (đối với Thanh niên xung phong đã hy sinh, từ trần).
- Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định có trách nhiệm:
+ Công bố công khai danh sách các trường hợp đề nghị xét tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang” trên các phương tiện thông tin truyền thông và đăng tải trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp xã (nếu có) trong thời hạn 10 ngày làm việc;
+ Tổ chức hội nghị đề nghị xét tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang”;
+ Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, đề nghị khen thưởng đối với các trường hợp đủ điều kiện, tiêu chuẩn, hồ sơ, thủ tục theo quy định.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định có trách nhiệm:
+ Chỉ đạo Sở Nội vụ tiếp nhận hồ sơ đề nghị khen thưởng, phối hợp với Hội (Ban Liên lạc) Cựu Thanh niên xung phong cấp tỉnh (nếu có) tổ chức thẩm định hồ sơ đề nghị xét tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang” và ký xác nhận kết quả thẩm định vào Bản kê khai thành tích của cá nhân.
+ Trình Thủ tướng Chính phủ (qua Bộ Nội vụ) xem xét, đề nghị khen thưởng đối với các trường hợp đủ điều kiện, tiêu chuẩn, hồ sơ, thủ tục theo quy định.
- Bộ Nội vụ trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định có trách nhiệm:
+ Thẩm định hồ sơ và lấy ý kiến các cơ quan liên quan (nếu có);
+ Trình Thủ tướng Chính phủ xét, trình Chủ tịch nước quyết định tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang”.
- Trường hợp hồ sơ Thanh niên xung phong thiếu căn cứ thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ của cấp xã có trách nhiệm thông báo, hướng dẫn Thanh niên xung phong hoàn thiện hồ sơ và nộp hồ sơ theo quy định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn.
- Trường hợp không đủ điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục khen thưởng, trong thời gian 10 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành thẩm định, xét duyệt ở cấp đó, cơ quan tiếp nhận, thẩm định hồ sơ có trách nhiệm thông báo bằng văn bản trả lại hồ sơ cho đơn vị trình khen thưởng; văn bản thông báo phải nêu rõ căn cứ pháp lý trả lại hồ sơ khen thưởng.
- Cơ quan tiếp nhận hồ sơ đề nghị tặng, truy tặng “Huy chương Thanh niên xung phong” cấp tỉnh, cấp xã tổ chức xác minh đối với những trường hợp có thành tích chưa rõ ràng, có đơn khiếu nại, tố cáo hoặc có dấu hiệu về việc hồ sơ đề nghị khen thưởng bị làm giả.
Phòng PBGDPL&TDTHPL
III. ĐƯA PHÁP LUÂT VÀO CUỘC SỐNG
Sở Tư pháp Quảng Trị: “Chiến dịch” đăng ký khai sinh cho những trẻ em “đặc biệt” ở vùng biên

Lực lượng chức năng hỗ trợ người dân làm giấy tờ
Tại một số xã vùng biên tỉnh Quảng Trị, một số trẻ em là con của công dân Việt Nam với người nước ngoài, người không quốc tịch; chưa được đăng ký khai sinh (ĐKKS). Sở Tư pháp đã chủ động rà soát, phối hợp tháo gỡ tình hình này.
Trẻ bị thiệt thòi vì chưa được đăng ký khai sinh
Theo quy định, ĐKKS là quyền nhân thân cơ bản của mỗi cá nhân ngay từ khi được sinh ra, cơ sở pháp lý để xác lập các quyền và nghĩa vụ công dân. Tuy nhiên, qua rà soát tại các xã vùng biên Quảng Trị như: Lao Bảo, Tà Rụt, Hướng Lập, A Dơi, Khe Sanh… vẫn còn một số trường hợp trẻ chưa được ĐKKS.
Theo thống kê, toàn tỉnh Quảng Trị có 38 trẻ chưa được ĐKKS, trong đó khu vực phía Nam 29 trường hợp, phía Bắc 9 trường hợp. Những trường hợp này được sinh ra tại Việt Nam, có cha là công dân Việt Nam, mẹ là người không có quốc tịch, không có giấy tờ tùy thân, cha mẹ không đăng ký kết hôn (ĐKKH). Vì chưa được ĐKKS, trẻ gặp khó khăn trong việc hoàn thiện giấy tờ nhân thân, ảnh hưởng quá trình học tập, khám, chữa bệnh, tiếp cận các chính sách an sinh xã hội.
Để giúp các trường hợp này được đăng ký khai sinh theo quy định của pháp luật Việt Nam và đảm bảo quyền lợi của trẻ trong tiếp cận các chính sách an sinh xã hội, Sở Tư pháp giao Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước (TTTGPLNN) số 2 rà soát, hướng dẫn từng trường hợp cụ thể. Theo TTTGPLNN số 2, quá trình rà soát hướng dẫn ĐKKS, một số trường hợp gặp khó khăn do thiếu giấy tờ tùy thân, hoặc chưa có tài khoản VNeID định danh mức độ 2. Một số trường hợp người cha làm mất căn cước công dân hoặc đã hết hạn nên chưa thể hoàn thiện hồ sơ. Một số trường hợp đi làm ăn xa, việc hoàn thiện hồ sơ gặp khó khăn, phải chờ người cha trở về mới có thể thực hiện thủ tục nhận cha - con và ĐKKS cho trẻ.
Bà Nguyễn Thị Thanh Nga, Phó Chủ tịch UBND xã Lao Bảo cho biết, trên địa bàn có một số trường hợp trẻ chưa được ĐKKS do cha mẹ chung sống với nhau nhưng chưa ĐKKH, có yếu tố di cư tự do, hoặc mẹ là người nước ngoài chưa có giấy tờ nhân thân đầy đủ. Trước đây, việc ĐKKS có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền UBND cấp huyện. Với cấp xã, chỉ thực hiện ĐKKS trong một số trường hợp cụ thể theo quy định về hộ tịch, nên quá trình giải quyết gặp nhiều khó khăn.
Những giải pháp cặn kẽ, quyết liệt, trách nhiệm
Trước thực tế này, Sở Tư pháp nhận định, việc ĐKKS cho các trẻ này là nhiệm vụ cần được ưu tiên giải quyết. Sở đã ban hành các văn bản chỉ đạo, đề nghị các địa phương rà soát, thống kê các trường hợp, xây dựng kế hoạch hỗ trợ cụ thể. Sở cũng chủ động triển khai các biện pháp hỗ trợ trực tiếp tại cơ sở, chỉ đạo TTTGPLNN số 2 cử cán bộ trực tiếp xuống cơ sở, đến từng hộ gia đình tư vấn, hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ.
Để tạo điều kiện cho những người đi làm ăn xa có thể hoàn thiện thủ tục khi trở về địa phương, Sở đã có văn bản đề nghị UBND các xã biên giới bố trí cán bộ trực tiếp nhận và giải quyết hồ sơ ĐKKS trong dịp nghỉ Tết Nguyên đán. Từ những biện pháp cụ thể này, tính chung toàn tỉnh, đến nay đã giải quyết ĐKKS cho 32/38 trường hợp; số còn lại đang được tiếp tục hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ theo quy định.

Sự vào cuộc của các lực lượng đã giúp các trường hợp trẻ em “đặc biệt” được ĐKKS
Theo ông Nguyễn Lương Chính, PGĐ phụ trách TTTGPLNN số 2, việc hỗ trợ ĐKKS không chỉ nhằm tháo gỡ những vướng mắc về thủ tục hành chính mà còn giúp người dân hiểu rõ hơn các quy định pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình. “Trong quá trình triển khai, Trung tâm đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, Công an và lực lượng Bộ đội Biên phòng để rà soát từng trường hợp cụ thể, trực tiếp hướng dẫn người dân hoàn thiện hồ sơ theo quy định”, ông Chính cho biết.
Theo ông Trần Chí Tiến, Giám đốc Sở Tư pháp Quảng Trị, việc ĐKKS cho trẻ trong những trường hợp đặc biệt trên không chỉ là yêu cầu về thủ tục hành chính mà còn là bước quan trọng để bảo đảm quyền nhân thân của trẻ, tạo nền tảng cho việc thụ hưởng các quyền lợi về giáo dục, y tế và an sinh xã hội.
Minh Phương









