Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 10

  • Hôm nay 2438

  • Tổng 3.412.203

Một số chính sách pháp luật mới có hiệu lực từ tháng 9/2026

Post date: 08/09/2026

Font size : A- A A+

1. Ngày 23 tháng 4 năm 2026, Quốc hội đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16

Luật Tiếp cận thông tin quy định về việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân; trách nhiệm của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu (sau đây gọi là cơ quan, đơn vị) trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân. Tại Điều 14 Luật Tiếp cận thông tin quy định công dân được tiếp cận thông tin của cơ quan, đơn vị, trừ thông tin không được tiếp cận quy định tại Điều 15 của Luật Tiếp cận thông tin; được tiếp cận có điều kiện đối với thông tin quy định tại Điều 16 của Luật Tiếp cận thông tin; trong đó, thông tin công dân không được tiếp cận (Điều 15) gồm: Thông tin thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước (Khi thông tin thuộc bí mật nhà nước được giải mật thì công dân được tiếp cận theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin); thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo quy định của pháp luật dân sự và dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật Tiếp cận thông tin; bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật Tiếp cận thông tin; thông tin mà nếu cung cấp sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp hoặc tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc người khác (Việc xác định thông tin tại khoản này thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan); trường hợp pháp luật chưa quy định, căn cứ vào điều kiện thực tế, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm xem xét, quyết định việc cung cấp thông tin; thông tin thuộc bí mật công tác do cơ quan, đơn vị xác định theo quy định của pháp luật; thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan, đơn vị; tài liệu do cơ quan, đơn vị soạn thảo cho công việc nội bộ.
Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2026.
2. Ngày 26 tháng 8 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 337/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin
Trong đó, tại Điều 7 Nghị định số 337/2026/NĐ-CP quy định về việc lập, cập nhật Danh mục thông tin phải được công khai như sau:
- Đơn vị chủ trì tạo ra thông tin xác định thông tin thuộc Danh mục thông tin phải được công khai theo Điều 17 của Luật Tiếp cận thông tin và chuyển đến đơn vị đầu mối cung cấp thông tin. Thời hạn chuyển thông tin thực hiện theo quy chế của cơ quan, đơn vị.
- Đơn vị đầu mối cung cấp thông tin lập, cập nhật Danh mục thông tin phải được công khai theo Điều 17 của Luật Tiếp cận thông tin.
- Danh mục thông tin phải được công khai gồm các nội dung: Tên, số, ký hiệu của văn bản hoặc hồ sơ, tài liệu; ngày, tháng, năm tạo ra văn bản hoặc hồ sơ, tài liệu; hình thức công khai. Trường hợp thông tin đang được công khai tại các cơ sở dữ liệu khác nhau hoặc đăng tải trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử thì tại Danh mục thông tin phải được công khai gồm các nội dung: Tên văn bản hoặc tên hồ sơ, tài liệu; chỉ dẫn địa chỉ truy cập đối với thông tin đó. Việc cập nhật Danh mục thông tin phải được công khai thực hiện theo quy chế của cơ quan, đơn vị.
- Danh mục thông tin phải được công khai được đăng tải trên Chuyên mục về tiếp cận thông tin thuộc cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin. Trường hợp cơ quan, đơn vị chưa có cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử thì Danh mục này phải được công khai trên cổng dữ liệu, các kênh nội dung, trang cộng đồng chính thức hoặc bằng hình thức thích hợp khác.
Nghị định số 337/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2026.
3. Ngày 19 tháng 8 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm
Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về việc định danh đối với các địa điểm trong lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (trừ các đối tượng thuộc Danh mục bí mật nhà nước); việc xây dựng, quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Nghị định này áp dụng đối với: Cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ thu thập, tạo lập, cập nhật dữ liệu định danh địa điểm; quản lý và vận hành Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm; các cơ quan, tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hoặc quản lý địa điểm hợp pháp; các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu định danh địa điểm để phục vụ quản lý nhà nước, phát triển kinh tế xã hội và các hoạt động khác theo quy định pháp luật; các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Tại Điều 2 Nghị định số 326/2026/NĐ-CP giải thích từ ngữ như sau:
- Định danh địa điểm là hoạt động thu thập, tạo lập dữ liệu và cấp mã định danh cho một địa điểm nhằm phân biệt địa điểm này với địa điểm khác.
- Đối tượng được định danh địa điểm là các thửa đất, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng, địa danh hoặc bất cứ cấu trúc vật lý và các đối tượng khác được quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định số 326/2026/NĐ-CP.
- Cơ quan quản lý định danh địa điểm là cơ quan được Bộ Công an giao thực hiện nhiệm vụ xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.
Nghị định số 326/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2026.
4. Ngày 13 tháng 8 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 320/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024 của Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử
Theo đó, tại Điều 2 Nghị định số 320/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 4 của Điều 4 Nghị định số 69/2024/NĐ-CP quy định: Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công, giao dịch dân sự và các hoạt động khác thực hiện khai thác và sử dụng danh tính điện tử, thông tin, giấy tờ đã tích hợp trên Ứng dụng định danh quốc gia, không được yêu cầu cá nhân, tổ chức nộp, xuất trình bản chính hoặc bản sao các giấy tờ, tài liệu đã được tích hợp trên Ứng dụng định danh quốc gia. Việc khai thác và sử dụng danh tính điện tử phải bảo mật thông tin tài khoản định danh điện tử và tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, phù hợp quy định bảo đảm an toàn và bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến qua Ứng dụng định danh quốc gia được miễn, giảm phí, lệ phí. Việc miễn, giảm phí, lệ phí được thực hiện theo quy định pháp luật về phí và lệ phí.
Bên cạnh đó, Điều 3 Nghị định số 320/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 7 Nghị định số 69/2024/NĐ-CP quy định về phân loại, đối tượng được cấp tài khoản định danh điện tử như sau:
- Công dân Việt Nam từ đủ 06 tuổi trở lên đã được cấp thẻ căn cước công dân hoặc thẻ căn cước còn thời hạn sử dụng được cấp tài khoản định danh điện tử mức độ 01, tài khoản định danh điện tử mức độ 02 khi có nhu cầu. Công dân Việt Nam dưới 06 tuổi đã được cấp thẻ căn cước được cấp tài khoản định danh điện tử mức độ 01 khi có nhu cầu.
- Người nước ngoài nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam hoặc cư trú hợp pháp tại Việt Nam được cấp tài khoản định danh điện tử không phân biệt theo mức độ khi có nhu cầu.
- Cơ quan, tổ chức được thành lập hoặc đăng ký hoạt động tại Việt Nam được cấp tài khoản định danh điện tử không phân biệt theo mức độ khi có nhu cầu.
Nghị định số 320/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 28 tháng 9 năm 2026.
5. Ngày 30 tháng 7 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 301/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/2024/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Chính phủ quy định việc thực hiện liên thông điện tử 02 nhóm thủ tục hành chính: đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi; đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, giải quyết mai táng phí, tử tuất
Trong đó, tại khoản 4 Điều 6 Nghị định số 301/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 3a trước khoản 3 quy định về giải quyết hồ sơ cấp thẻ căn cước cho trẻ em dưới 6 tuổi như sau: Việc cấp thẻ căn cước cho trẻ em dưới 6 tuổi trong quy trình liên thông điện tử chỉ thực hiện khi người đại diện hợp pháp có đề nghị cấp thẻ căn cước cho trẻ tại bước nộp hồ sơ trực tuyến theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 301/2026/NĐ-CP. Sau khi Hệ thống thông tin quản lý cư trú của Bộ Công an chuyển bản điện tử Thông báo kết quả giải quyết đăng ký thường trú sang Cổng Dịch vụ công quốc gia, sau đó Cổng Dịch vụ công quốc gia phân tách, chuyển hồ sơ điện tử (biểu mẫu, tờ khai người yêu cầu đã kê khai) đến Hệ thống sản xuất, cấp và quản lý căn cước của Bộ Công an để thực hiện cấp thẻ căn cước theo quy định của Luật Căn cước số 26/2023/QH15. Ngay sau khi hồ sơ điện tử được chuyển đến Hệ thống sản xuất, cấp, quản lý căn cước, cán bộ công an tiếp nhận, thực hiện nghiệp vụ cấp thẻ căn cước; thực hiện trích xuất dữ liệu điện tử khai sinh và thẻ Bảo hiểm y tế đã được cấp trong quy trình liên thông để tích hợp thông tin vào thẻ căn cước và tài khoản định danh điện tử của trẻ em theo quy định của pháp luật về căn cước trên Hệ thống sản xuất, cấp và quản lý căn cước. Đối với trẻ em dưới 6 tuổi, cơ quan quản lý căn cước không thu nhận thông tin nhân dạng và thông tin sinh trắc học theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Luật Căn cước số 26/2023/QH15. Thời gian giải quyết cấp thẻ căn cước không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ điện tử trên hệ thống.
Nghị định số 301/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2026.
6. Ngày 15 tháng 7 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Nghị định số 283/2026/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, biện pháp khắc phục hậu quả trong các lĩnh vực sau đây: Lao động, bao gồm: việc làm, tuyển dụng và quản lý lao động; điều kiện lao động và quan hệ lao động; an toàn, vệ sinh lao động; tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở; Bảo hiểm xã hội; Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Trong đó, tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 283/2026/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm có một trong các hành vi sau đây:
- Không niêm yết công khai lịch làm việc, giá dịch vụ tư vấn, giới thiệu việc làm tại trụ sở chính thực hiện hoạt động dịch vụ việc làm, chi nhánh của doanh nghiệp và thông tin liên hệ của doanh nghiệp bao gồm: Tên doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính và chi nhánh, trang thông tin điện tử (website) (nếu có), email, số điện thoại liên hệ;
- Không báo cáo kết quả hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp đến Sở Nội vụ thông qua Sàn giao dịch việc làm quốc gia theo quy định của pháp luật;
- Không thông báo bằng văn bản hoặc qua Sàn giao dịch việc làm quốc gia cho Sở Nội vụ nơi đặt trụ sở chính thực hiện hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp và Sở Nội vụ nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chi nhánh (đối với trường hợp địa điểm chi nhánh khác tỉnh so với nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính) trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định giao nhiệm vụ cho chi nhánh;
- Không thông báo bằng văn bản hoặc qua Sàn giao dịch việc làm quốc gia cho Sở Nội vụ nơi đặt trụ sở chi nhánh về địa điểm mới trong thời hạn 10 ngày làm việc, trước ngày thực hiện chuyển địa điểm trong trường hợp doanh nghiệp chuyển địa điểm đặt trụ sở chi nhánh.
Nghị định số 283/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 9 năm 2026.
7. Ngày 17 tháng 7 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 287/2026/NĐ-CP quy định về tiền bản quyền trong các lĩnh vực: Điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí, xuất bản
Nghị định số 287/2026/NĐ-CP áp dụng đối với tổ chức, cá nhân sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước; tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý. Cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý trong trường hợp Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định tại khoản 3 Điều 42 của Luật Sở hữu trí tuệ (sau đây gọi là cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý). Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến các hoạt động quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Nghị định số 287/2026/NĐ-CP. Trong đó, quy định chung về việc trả tiền bản quyền được quy định tại Điều 3 Nghị định số 287/2026/NĐ-CP, bao gồm:
- Tiền bản quyền trả cho việc sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước quy định tại điểm a khoản 1 Điều 42 của Luật Sở hữu trí tuệ thực hiện theo quy định của pháp luật về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu và quy định của Nghị định số 287/2026/NĐ-CP.
- Tiền bản quyền trả cho việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý thực hiện theo thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý và bên khai thác, sử dụng trên cơ sở quy định của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan, quy định của Nghị định số 287/2026/NĐ-CP và quy định của pháp luật có liên quan.
- Tiền bản quyền khuyến khích là khoản tiền bản quyền được trả thêm cho tác giả, chức danh sáng tạo khác thuộc một trong các trường hợp sau đây: Thuộc đề tài về trẻ em, dân tộc thiểu số; thuộc loại hình nghệ thuật truyền thống có xác định tác giả; thuộc loại hình giao hưởng, opera, kịch múa (ba lê), xiếc; thuộc thể loại phóng sự điều tra; dành cho người khuyết tật và được quy định cụ thể tại các Chương II, IV, V và VI của Nghị định số 287/2026/NĐ-CP; tác giả là công dân Việt Nam sáng tạo, nói, viết trực tiếp bằng tiếng nước ngoài; tác giả là người dân tộc Kinh sáng tạo, nói, viết trực tiếp bằng tiếng dân tộc thiểu số, người dân tộc thiểu số này sáng tạo, nói, viết trực tiếp bằng tiếng dân tộc thiểu số khác hoặc sáng tạo, nói, viết trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm và được quy định cụ thể tại các Chương V và VI của Nghị định số 287/2026/NĐ-CP; quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu được khai thác, sử dụng và cơ quan đại diện chủ sở hữu thu được lợi nhuận thì tác giả, chức danh sáng tạo khác đối với tác phẩm được hưởng thêm tiền bản quyền khuyến khích theo thỏa thuận trên cơ sở đóng góp nhưng tổng số không quá 10% lợi nhuận thu được. Thời điểm xác định lợi nhuận thực hiện theo năm tài chính hoặc theo đợt khai thác, sử dụng, căn cứ vào báo cáo quyết toán tài chính của các bên.
- Việc phân chia tiền bản quyền giữa các tác giả, các chủ sở hữu quyền tác giả, các người biểu diễn, các chủ sở hữu quyền liên quan thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 12a, các khoản 1, 2 Điều 44a của Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định số 17/2023/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 134/2026/NĐ-CP.
- Trường hợp làm tác phẩm phái sinh thì chủ sở hữu quyền tác giả của một hoặc nhiều tác phẩm được sử dụng làm tác phẩm phái sinh được hưởng một phần trên tổng số tiền bản quyền trả cho việc sáng tạo, khai thác, sử dụng quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh.
Nghị định số 287/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2026.
8. Ngày 04 tháng 8 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 307/2026/NĐ-CP quy định về lựa chọn, công nhận, chính sách đối với người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và chính sách thăm hỏi, chúc mừng, tặng quà, động viên, gặp mặt, biểu dương, tôn vinh đối với một số tổ chức, cá nhân người dân tộc thiểu số
Theo đó, tại Điều 4, Điều 5, Điều 6 Nghị định số 307/2026/NĐ-CP quy định về tiêu chí lựa chọn người có uy tín, đối tượng lựa chọn, điều kiện bình chọn người có uy tín như sau:
- Người có uy tín đáp ứng các tiêu chí sau đây: Là công dân Việt Nam, không phân biệt tôn giáo, giới tính, cư trú tại địa phương; ưu tiên người dân tộc thiểu số. Bản thân và gia đình gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Là người tiêu biểu, có nhiều đóng góp trong các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, bảo vệ an ninh trật tự, giữ gìn bản sắc văn hóa và xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc. Hiểu biết về văn hóa truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của địa phương; có mối liên hệ chặt chẽ trong dòng họ, dân tộc và cộng đồng dân cư. Có khả năng quy tụ, tập hợp, tuyên truyền, vận động người dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; được người dân trong cộng đồng tín nhiệm, tin tưởng, nghe và làm theo.
- Người có uy tín được lựa chọn từ các đối tượng sau: Già làng, trưởng dòng họ, người thường xuyên được đồng bào dân tộc thiểu số mời thực hiện các nghi lễ truyền thống hoặc nghi lễ tín ngưỡng tốt đẹp của cộng đồng, dân tộc, dòng họ, thôn. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành trong các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận. Cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ, công chức quốc phòng, công nhân và nhân viên quốc phòng, người làm việc trong các tổ chức cơ yếu thuộc Quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ và công nhân Công an nhân dân đã nghỉ hưu có quá trình công tác lâu năm, có cống hiến cho cộng đồng, dân tộc, đất nước. Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, Trưởng Ban công tác mặt trận thôn, Tổ trưởng Tổ bảo vệ an ninh, trật tự, Thôn đội trưởng. Nhân sỹ, trí thức, doanh nhân, nghệ nhân, nhà giáo, thầy thuốc, lương y, công nhân, nông dân sản xuất giỏi, phụ nữ tiêu biểu, thanh niên tiêu biểu được đa số đồng bào tín nhiệm.
- Điều kiện bình chọn người có uy tín: Mỗi thôn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số hoặc thôn của xã, phường, đặc khu (sau đây gọi chung là xã) thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số được lựa chọn, công nhận 01 người có uy tín. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 6. Trường hợp thôn thành lập mới do sắp xếp, sáp nhập các thôn từ ngày 26 tháng 5 năm 2026, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tùy theo tình hình thực tế, quyết định số lượng người có uy tín của thôn mới nhưng không vượt quá tổng số người có uy tín của các thôn trước khi sáp nhập.
Ngoài ra, Nghị định số 307/2026/NĐ-CP quy định nhiều chính sách cho người uy tín như chính sách hỗ trợ về thông tin, chính sách hỗ trợ vật chất, động viên tinh thần, chính sách khen thưởng…
Nghị định số 307/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 9 năm 2026.
9. Ngày 11 tháng 8 năm 2026, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 65/2026/TT-BGDĐT quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam
Trong đó, tại Điều 2 Thông tư số 65/2026/TT-BGDĐT quy định về công nhận văn bằng như sau: Công nhận văn bằng là việc xác nhận trình độ của người học được ghi trên văn bằng theo hệ thống giáo dục của nước nơi cơ sở giáo dục nước ngoài đặt trụ sở chính và xác định mức độ tương đương với bậc trình độ trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam khi có cơ sở đối chiếu phù hợp. Trường hợp văn bằng đủ điều kiện công nhận nhưng không xác định được mức độ tương đương của văn bằng với bậc trình độ trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam thì cung cấp thông tin liên quan đến văn bằng theo hệ thống giáo dục của nước cấp bằng. Việc xác định tương đương với Khung trình độ quốc gia Việt Nam thực hiện dựa trên cơ sở chuẩn đầu vào, khối lượng học tập, bậc trình độ. Công nhận văn bằng là dịch vụ công, được thực hiện theo nhu cầu của người có văn bằng, tổ chức sử dụng lao động khi có sự đồng ý của người có văn bằng.
Về thẩm quyền công nhận văn bằng, Điều 4 Thông tư số 65/2026/TT-BGDĐT quy định: Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận văn bằng của giáo dục nghề nghiệp và văn bằng của giáo dục đại học. Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo công nhận bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông.
Thông tư số 65/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực thi hành từ ngày 26 tháng 9 năm 2026.
10. Ngày 17 tháng 07 năm 2026, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 61/2026/TT-BGDĐT quy định về khai thác, sử dụng tài nguyên giáo dục mở trong hoạt động giáo dục đại học
Trong đó, tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 Thông tư số 61/2026/TT-BGDĐT giải thích từ ngữ như sau:
- Tài nguyên giáo dục mở trong hoạt động giáo dục đại học là tài nguyên giáo dục mở được các cơ sở đào tạo, tổ chức, cá nhân xây dựng, phát triển, biên soạn, lựa chọn, thẩm định, duyệt, công bố, chia sẻ, khai thác, sử dụng và quản lý phục vụ trong hoạt động giáo dục đại học.
- Tài nguyên giáo dục mở là học liệu phục vụ hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu dưới bất kỳ định dạng hoặc phương tiện nào, bao gồm giáo trình, bài giảng, tài liệu tham khảo, khóa học trực tuyến, học liệu đa phương tiện, dữ liệu học tập và các tài nguyên giáo dục khác; tồn tại trong phạm vi công cộng hoặc thuộc quyền tác giả nhưng được phát hành theo giấy phép mở, cho phép người sử dụng truy cập để giữ lại, sử dụng lại, sửa đổi, kết hợp lại và phân phối lại theo quy định của giấy phép mở.
Ngoài ra, tại Điều 9 Thông tư số 61/2026/TT-BGDĐT quy định về sử dụng tài nguyên giáo dục mở trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu:
- Cơ sở đào tạo có chính sách tạo điều kiện cho đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, người học khai thác, sử dụng tài nguyên giáo dục mở; tích hợp tài nguyên giáo dục mở vào hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và hỗ trợ khởi nghiệp; phát triển môi trường học tập mở, thúc đẩy học tập suốt đời và văn hóa chia sẻ học liệu.
- Cơ sở đào tạo được sử dụng tài nguyên giáo dục mở làm học liệu chính thức, học liệu tham khảo hoặc học liệu bổ trợ trong chương trình đào tạo cấp văn bằng ở các trình độ của giáo dục đại học; học liệu cho khóa học, khóa học trực tuyến, cấp chứng chỉ; phục vụ hoạt động nghiên cứu và công bố học thuật và các hoạt động giáo dục kỹ năng theo quy định.
- Việc sử dụng tài nguyên giáo dục mở trong đào tạo, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, công nhận và chuyển đổi tín chỉ, cấp chứng chỉ và văn bằng phải: Tuân thủ quy định của Thông tư này và pháp luật có liên quan; Bảo đảm tính minh bạch, công bằng, khách quan; Bảo đảm chất lượng của chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra của học phần, chương trình đào tạo.
Thông tư số 61/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2026.
11. Ngày 15 tháng 07 năm 2026, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng
Trong đó, tại khoản 1, khoản 2 Điều 2 Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT giải thích từ ngữ như sau:
- Hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu là sự thỏa thuận lao động giữa cơ sở giáo dục và nhà giáo sau khi nghỉ hưu, được xác lập dưới hình thức hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật.
- Thỉnh giảng là hoạt động của người được cơ sở giáo dục mời đến thực hiện nhiệm vụ giảng dạy ít nhất một môn học, mô-đun, học phần, chuyên đề hoặc nội dung trong chương trình giáo dục, chương trình đào tạo do cơ sở giáo dục thực hiện và các hoạt động chuyên môn khác có liên quan trực tiếp đến quá trình giáo dục, đào tạo theo quy định. Người thực hiện hoạt động thỉnh giảng tại cơ sở giáo dục gọi là nhà giáo thỉnh giảng. Nhà giáo thỉnh giảng giảng dạy chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, dự bị đại học; chương trình đào tạo trình độ sơ cấp, trung học nghề, trung cấp gọi là giáo viên thỉnh giảng. Nhà giáo thỉnh giảng giảng dạy chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ gọi là giảng viên thỉnh giảng.
Bên cạnh đó, tại Điều 4 Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐTquy định về điều kiện của nhà giáo được ký hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu như sau: Có phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp tốt; không trong thời hạn bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật; không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành các hình phạt khác. Đáp ứng tiêu chuẩn sức khỏe để làm việc, được cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận và phù hợp với pháp luật lao động về người lao động cao tuổi. Đáp ứng tiêu chuẩn về trình độ đào tạo và năng lực nghề nghiệp theo yêu cầu của vị trí việc làm; có khả năng ứng dụng công nghệ số vào giảng dạy đáp ứng yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục hoặc chương trình đào tạo. Đáp ứng các điều kiện khác theo yêu cầu của cơ sở giáo dục phù hợp với yêu cầu chuyên môn của vị trí việc làm.
Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2026.
12. Ngày 27 tháng 5 năm 2026, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Thông tư số 25/2026/TT-BNNMT hướng dẫn quy trình, phương pháp rà soát, công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2027 - 2030
Thông tư số 25/2026/TT-BNNMT hướng dẫn quy trình, phương pháp, thời gian rà soát; công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo; chế độ báo cáo, mẫu biểu tổng hợp; kinh phí và trách nhiệm tổ chức thực hiện theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2027-2030 quy định tại Nghị định số 351/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030. Trong đó, tại Điều 6 quy định về quy trình rà soát trong năm như sau:
- Thời gian rà soát trong năm: từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 8 hằng năm, trừ trường hợp đột xuất.
- Lập Danh sách hộ gia đình cần rà soát: Trên cơ sở đề nghị rà soát, công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo trong năm của hộ gia đình theo Mẫu số 01 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 25/2026/TT-BNNMT, người thực hiện rà soát sử dụng Phiếu A để rà soát, lập danh sách hộ gia đình thuộc Danh sách rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo đối với hộ không có điều kiện nhận dạng nhanh theo ghi chú tại cột 0 và hộ có dưới 04 tiêu chí từ cột 01 đến cột 09; lập Danh sách rà soát hộ thoát nghèo đối với hộ có đề nghị rà soát, công nhận hộ thoát nghèo.
- Thực hiện rà soát, phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Thông tư số 25/2026/TT-BNNMT.
- Tổ chức họp dân để lấy ý kiến về kết quả rà soát theo quy định tại khoản 4 Điều 5; niêm yết, thông báo công khai kết quả rà soát, phân loại theo quy định tại khoản 5 Điều 5 Thông tư số 25/2026/TT-BNNMT.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận Danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo theo quy định tại khoản 6 Điều 5 Thông tư số 25/2026/TT-BNNMT; cấp Giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo trước ngày 01 của tháng kế tiếp. Trường hợp không đủ điều kiện công nhận theo quy định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
- Trường hợp đột xuất (xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh hoặc trường hợp bất khả kháng khác; phát sinh từ ngày 15 tháng 12 đến hết ngày 31 tháng 12) thì thời gian rà soát, danh sách hộ gia đình cần rà soát do người thực hiện rà soát đề xuất, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định. Các bước rà soát, quyết định công nhận và cấp Giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 6.
Thông tư số 25/2026/TT-BNNMT có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2026.
                                                                                                                                                                  Phương Nhung
 

More