Chi tiết tin - Sở Tư pháp
CHÍNH SÁCH THÁNG 7 NĂM 2026
.
I. DÒNG CHẢY CHÍNH SÁCH
Một số chính sách có hiệu lực từ tháng 7 năm 2026
1. Tăng lương cơ sở lên 2.530.000 đồng/tháng từ ngày 01/7/2026
Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 161/2026/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Theo đó, mức lương cơ sở sẽ tăng lên 2.530.000 đồng/tháng kể từ ngày 01/7/2026.
2. Tăng 8% lương hưu và trợ cấp từ ngày 01/7/2026
Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 162/2026/NĐ-CP điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng. Theo đó, mức lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ tăng thêm 8%. Đặc biệt, Chính phủ nâng mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng lên 3,8 triệu đồng/tháng đối với một số trường hợp có mức hưởng thấp sau khi tăng chung.
3. Nhà giáo được hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề từ 20-80% từ ngày 07/7/2026
Ngày 22/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 182/2026/NĐ-CP quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và nhân sự hỗ trợ giáo dục công tác trong các cơ sở giáo dục công lập.
Theo đó, Nghị định này quy định mức phụ cấp ưu đãi theo nghề từ 20% đến 80% dành cho nhà giáo, cán bộ quản lý và nhân sự hỗ trợ tại các cơ sở giáo dục. Mức phụ cấp được phân loại tăng dần dựa trên cấp học, tính chất đặc thù của môn học và điều kiện khó khăn của địa bàn công tác. Trong đó, mức cao nhất (70% - 80%) được ưu tiên áp dụng cho nhân sự công tác tại vùng đặc biệt khó khăn, trường chuyên biệt hoặc các trường dân tộc nội trú.
4. Trẻ em từ 02 - 12 tuổi đi tàu bay được giảm 50% mức phí bảo đảm an ninh hàng không từ ngày 01/7/2026
Ngày 18/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 215/2026/NĐ-CP về an ninh hàng không. Nghị định quy định các trường hợp được miễn phí bảo đảm an ninh hàng không như sau: Chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang phục vụ nhiệm vụ chính trị, đối ngoại của Đảng và Nhà nước theo quy định của pháp luật; túi ngoại giao, túi lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; trẻ em dưới 02 tuổi đi tàu bay; các trường hợp khác được miễn phí theo điều ước quốc tế hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan.
Trẻ em từ đủ 02 tuổi đến dưới 12 tuổi đi tàu bay được áp dụng mức thu bằng 50% mức thu phí đối với hành khách người lớn theo quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này.
Việc bù trừ hoặc hoàn trả số tiền phí đã nộp thừa hoặc không còn thuộc đối tượng chịu phí được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật có liên quan.
5. Từ ngày 01/7/2026, cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật trên mạng xã hội bị phạt đến 50 triệu đồng
Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 174/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin. Trong đó, đáng chú ý là các quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội. Nghị định quy định phạt 20-30 triệu đồng đối với hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; 30-50 triệu đồng đối với hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
6. Chính phủ quy định 4 mức độ dịch vụ công trực tuyến chủ động
Ngày 24/6/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 224/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số. Trong đó, Chính phủ quy định 4 mức độ dịch vụ công trực tuyến chủ động gồm: Mức độ 1: Dịch vụ công trực tuyến chủ động nhắc thực hiện; Mức độ 2: Dịch vụ công trực tuyến chủ động nhắc và chuẩn bị hồ sơ; Mức độ 3: Dịch vụ công trực tuyến chủ động nhắc, chuẩn bị hồ sơ và khuyến nghị phương án dịch vụ; Mức độ 4: Dịch vụ công trực tuyến chủ động nhắc, chuẩn bị hồ sơ, khuyến nghị phương án dịch vụ và tự động thực hiện. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026.
7. Quy định về vị trí việc làm viên chức áp dụng từ ngày 01/7/2026
Ngày 26/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 232/2026/NĐ-CP quy định về vị trí việc làm viên chức. Nghị định này quy định về nguyên tắc, danh mục vị trí việc làm, bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm, bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm, việc xác định vị trí việc làm, thẩm quyền, trách nhiệm quản lý, phê duyệt, điều chỉnh danh mục vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập.
Trong đó, Nghị định quy định một chức danh quản lý tương ứng với một vị trí việc làm. Trường hợp có từ 02 người trở lên giữ chức danh cấp phó của người đứng đầu thì việc phân công phụ trách lĩnh vực, nhiệm vụ cụ thể không làm phát sinh vị trí việc làm mới, không làm thay đổi tên gọi của vị trí việc làm. Gắn với một vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ hoặc vị trí việc làm hỗ trợ phù hợp với lĩnh vực được giao phụ trách; là căn cứ để xác định nhiệm vụ chuyên môn, yêu cầu về năng lực và việc thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức theo quy định của pháp luật.
8. Sửa đổi, bổ sung một số quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ
Ngày 26/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 236/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 151/2024/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 184/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ.
Theo đó, điểm mới đáng chú ý của Nghị định là việc bổ sung các trường thông tin liên quan đến công tác sát hạch, cấp giấy phép lái xe và quản lý điểm giấy phép lái xe; thông tin về xe cơ giới nước ngoài do người nước ngoài điều khiển tham gia giao thông tại Việt Nam; thông tin về đơn vị kinh doanh vận tải, phù hiệu xe kinh doanh vận tải. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Phòng PBGDPL&TDTHPL
II. TIÊU ĐIỂM CHÍNH SÁCH
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CAI NGHIỆM MA TÚY
Câu 1: Pháp luật quy định thời hạn và quy trình thực hiện cai nghiện ma túy cụ thể như thế nào đối với người nghiện ma túy?
Trả lời: Căn cứ theo quy định tại Điều 29 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025, thời hạn và quy trình cai nghiện được pháp luật quy định rất chặt chẽ và yêu cầu người cai nghiện phải thực hiện một cách đầy đủ. Cụ thể về thời hạn, đối với những người tham gia cai nghiện ma túy lần đầu thì thời hạn quy định bắt buộc là 24 tháng, riêng đối với những người tái nghiện và phải thực hiện cai nghiện ma túy từ lần thứ hai trở lên thì thời hạn này sẽ kéo dài hơn là 36 tháng.
Toàn bộ quá trình cai nghiện bắt buộc phải tuân thủ và trải qua đầy đủ một quy trình nghiêm ngặt gồm 05 giai đoạn liền mạch bao gồm: đầu tiên là tiếp nhận và phân loại người nghiện; tiếp theo là tiến hành điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị rối loạn tâm thần cùng các bệnh lý kèm theo; giai đoạn thứ ba là giáo dục, tư vấn để phục hồi hành vi và nhân cách; kế tiếp là tổ chức lao động trị liệu kết hợp với dạy nghề và cuối cùng là giai đoạn chuẩn bị các điều kiện cần thiết để người nghiện tái hòa nhập cộng đồng.
Câu 2: Người nghiện ma túy có thể tham gia cai nghiện dưới những hình thức nào?
Trả lời: Căn cứ theo quy định tại Điều 30 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025, công tác cai nghiện ma túy được triển khai dưới hai hình thức là cai nghiện ma túy tự nguyện và cai nghiện ma túy bắt buộc tại các hệ thống cơ sở được cấp phép phù hợp với từng độ tuổi.
Đối với hình thức cai nghiện tự nguyện, người nghiện có thể đăng ký thực hiện tại gia đình, cộng đồng hoặc tại các cơ sở cai nghiện công lập, trường giáo dưỡng hay cơ sở tư nhân tùy thuộc vào điều kiện cá nhân, tuy nhiên dù lựa chọn môi trường nào thì người cai nghiện vẫn phải đảm bảo tuân thủ đầy đủ quy trình hoặc số giai đoạn tối thiểu theo quy định.
Đối với hình thức cai nghiện bắt buộc, pháp luật quy định sẽ áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên; còn đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi thì việc cai nghiện bắt buộc sẽ được tổ chức tại các trường giáo dưỡng hoặc tại các cơ sở cai nghiện ma túy công lập có đủ điều kiện tiêu chuẩn do Nhà nước ban hành.
Câu 3: Những trường hợp nào người nghiện từ đủ 18 tuổi trở lên sẽ bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc và đối tượng nào được miễn áp dụng biện pháp này?
Trả lời: Điều 35 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 quy định như sau:
- Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính nếu không thuộc trường hợp bị xử lý theo quy định của pháp luật về hình sự, khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 33 của Luật này; trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy; người nghiện ma túy không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị nghiện bằng thuốc thay thế hoặc bị chấm dứt điều trị nghiện bằng thuốc thay thế do vi phạm quy định về điều trị nghiện; trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà xác định nghiện ma túy; trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 36 và các khoản 2, 3 và 4 Điều 47 của Luật này.
- Không áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp sau đây: Người không có năng lực trách nhiệm hành chính; người đang mang thai có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện theo quy định pháp luật; phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.
Câu 4: Người đã hoàn thành xong quá trình cai nghiện, điều trị nghiện, chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc phải chịu sự quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú trong thời gian bao lâu?
Trả lời: Điều 42 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 quy định:
- Người đã hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện, người đã hoàn thành điều trị nghiện bằng thuốc thay thế, người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đã chấp hành xong quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc chịu sự quản lý sau cai nghiện ma túy trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hoàn thành việc cai nghiện hoặc chấp hành xong quyết định.
- Người đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc chịu sự quản lý sau cai nghiện ma túy trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định.
Câu 5: Pháp luật quy định như thế nào về quyền và nghĩa vụ của người cai nghiện ma túy?
Điều 45 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 quy định quyền và nghĩa vụ của người cai nghiện ma túy như sau: được bảo đảm kinh phí hoặc hỗ trợ kinh phí cai nghiện ma túy theo quy định của Luật này; được hưởng kết quả lao động trị liệu của mình theo quy định của Chính phủ; thực hiện đúng, đầy đủ các quy định về cai nghiện ma túy và tuân thủ hướng dẫn của cơ quan chuyên môn; nộp chi phí liên quan đến cai nghiện ma túy theo quy định của Luật này; các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Phòng PBGDPL&TDTHPL
III. ĐƯA PHÁP LUẬT VÀO CUỘC SỐNG
NÂNG CAO Ý THỨC PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY TRONG MÙA NẮNG NÓNG: LÁ CHẮN VỮNG CHẮC BẢO VỆ MỖI GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG
Những ngày hè cao điểm với nền nhiệt độ liên tục duy trì ở mức nắng nóng gay gắt chính là thời điểm nguy cơ cháy, nổ tại các khu dân cư, hộ gia đình tăng cao hơn bao giờ hết. Trước thực trạng này, việc hiểu và tự giác chấp hành các quy định của Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ số 55/2024/QH15 (gọi tắt là Luật) không chỉ là trách nhiệm, mà đã trở thành lá chắn vững chắc nhất giúp mỗi người dân chủ động bảo vệ tính mạng, tài sản của chính mình và cộng đồng.
Luật đã xác định phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ là trách nhiệm chung của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Nhiều người trong chúng ta vẫn thường mang tâm lý chủ quan, coi công tác này là nhiệm vụ của lực lượng chức năng, nhưng theo quy định tại Điều 8 của Luật “Công dân từ đủ 18 tuổi trở lên, đủ sức khỏe có trách nhiệm tham gia vào Đội phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cơ sở, Đội phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ chuyên ngành hoặc Đội dân phòng khi có yêu cầu”. Đối với mỗi cá nhân, trách nhiệm này được cụ thể hóa bằng những hành động vô cùng gần gũi trong đời sống thường nhật như tự tìm hiểu kiến thức, kỹ năng thoát nạn, sử dụng thành thạo các phương tiện chữa cháy thông dụng và bảo đảm an toàn tuyệt đối trong việc sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt. Trong thời tiết hanh khô đỉnh điểm như hiện nay, một tàn lửa nhỏ không đúng nơi quy định hoàn toàn có thể thổi bùng lên một đại họa, vì vậy việc tuân thủ quy định pháp luật về phòng cháy, chữa cháy chính là bảo vệ an toàn cho cho gia đình và cộng đồng.
Đặt trọng tâm vào việc bảo đảm an toàn phòng cháy tại hộ gia đình, Điều 20 của Luật đã đưa ra các quy định đối với công tác phòng cháy đối với nhà ở nhằm hướng dẫn người dân phòng ngừa chủ động. Theo đó, nhà ở phải bảo đảm các điều kiện an toàn về phòng cháy như phải lắp đặt, sử dụng thiết bị điện bảo đảm điều kiện an toàn về phòng cháy; bố trí bếp đun nấu, nơi thờ cúng, đốt vàng mã bảo đảm an toàn; không để vật, chất dễ cháy, nổ gần nguồn lửa, nguồn nhiệt. Đồng thời, phải bảo đảm có phương tiện phòng cháy, chữa cháy phù hợp với khả năng, điều kiện thực tế để sẵn sàng chữa cháy, thoát nạn và bố trí, duy trì lối thoát nạn, lối ra khẩn cấp hoặc lối đi bảo đảm việc thoát nạn.
- Nhà ở có quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn được viện dẫn trong văn bản quy phạm pháp luật hoặc trong quy chuẩn kỹ thuật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thực hiện theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó.
- Nhà ở trong danh mục cơ sở thuộc diện quản lý về phòng cháy và chữa cháy thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Luật này.
- Đối với nhà ở tại thành phố trực thuộc trung ương thuộc khu vực không bảo đảm hạ tầng giao thông hoặc nguồn nước phục vụ chữa cháy theo quy định của pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật trong hoạt động phòng cháy, chữa cháy thì phải trang bị bình chữa cháy, thiết bị truyền tin báo cháy kết nối với hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và truyền tin báo cháy theo lộ trình do Chính phủ quy định.
- Đối với nhà ở tại khu vực khác thì khuyến khích trang bị thiết bị truyền tin báo cháy kết nối với hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và truyền tin báo cháy.
Đối với mô hình nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh vốn ẩn chứa rủi ro hỏa hoạn đặc biệt nghiêm trọng, Điều 21 của Luật quy định cụ thể như sau:
- Nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh phải bảo đảm các điều kiện an toàn về phòng cháy sau: Các điều kiện an toàn về phòng cháy quy định tại Điều 20 của Luật này; có biển cấm, biển báo, biển chỉ dẫn theo quy định; khu vực sản xuất, kinh doanh hàng hóa có nguy cơ cháy, nổ phải có giải pháp ngăn cách hoặc ngăn cháy với khu vực để ở.
- Nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ phải bảo đảm các điều kiện an toàn về phòng cháy sau: Các điều kiện an toàn về phòng cháy quy định nêu trên; không bố trí chỗ ngủ trong khu vực sản xuất, kinh doanh; có phương tiện báo cháy, giải pháp thông gió, thiết bị phát hiện sự cố rò rỉ chất khí nguy hiểm về cháy, nổ phù hợp với công năng, đặc điểm của nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ; khu vực sản xuất, kinh doanh hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ phải được ngăn cháy với lối thoát nạn của khu vực để ở.
Nhằm thống nhất quy trình ứng phó nhanh và ngăn chặn các hiểm họa từ ý thức con người, pháp luật cũng quy định rõ các quy tắc “vàng” khi phát hiện hỏa hoạn cùng các hành vi bị nghiêm cấm nghiêm khắc. Điều 6 của Luật nêu rõ người phát hiện cháy, tình huống cứu nạn, cứu hộ thì báo ngay cho lực lượng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, cơ quan Công an hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi gần nhất. Thông tin báo cháy, báo tình huống cứu nạn, cứu hộ được thực hiện bằng hiệu lệnh, điện thoại hoặc tín hiệu từ thiết bị truyền tin báo cháy hoặc báo trực tiếp cho lực lượng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, cơ quan Công an hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi gần nhất. Số điện thoại báo cháy, báo tình huống cứu nạn, cứu hộ được quy định thống nhất trong cả nước là 114. Song song với đó, Điều 14 của Luật nghiêm cấm các hành vi báo cháy giả; báo tình huống cứu nạn, cứu hộ giả; sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hàng hóa, chất, vật phẩm nguy hiểm về cháy, nổ; chiếm đoạt, hủy hoại, cố ý làm hư hỏng phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; tự ý thay đổi, di chuyển, che khuất phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, biển báo, biển chỉ dẫn đã được trang bị theo quy định; cản trở lối thoát nạn; làm mất tác dụng của lối thoát nạn, đường thoát nạn, ngăn cháy lan.
Như vậy, Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ không chỉ hoàn thiện hành lang pháp lý mà quan trọng hơn là một lời nhắc nhở sâu sắc về quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân đối với công tác phòng cháy, chữa cháy. Sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật không phải là những khẩu hiệu, mà được định hình từ chính những thói quen tự giác hằng ngày: một thiết bị điện được ngắt khi ra khỏi phòng, một chiếc bình chữa cháy được trang bị sẵn nơi góc nhà, hay một lối đi chung được giữ gìn thông thoáng. Giữa cái nóng oi ả của mùa hè, ý thức của mỗi người sẽ góp phần hạn chế nguy cơ hỏa hoạn. Hãy biến nhận thức thành hành động ngay hôm nay, bởi bảo vệ an toàn phòng cháy, chữa cháy chính là bảo vệ gia đình và bình yên của toàn xã hội.
Phòng PBGDPL&TDTHPL









