Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 4

  • Hôm nay 54

  • Tổng 3.258.419

CHÍNH SÁCH THÁNG 8 NĂM 2026

Post date: 06/08/2026

Font size : A- A A+

I. DÒNG CHẢY CHÍNH SÁCH
Một số chính sách có hiệu lực từ tháng 8 năm 2026
 

1.    Quy định mới về kinh doanh hàng miễn thuế
Ngày 07/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 273/2026/NĐ-CP về kinh doanh hàng miễn thuế. Theo đó, khoản 6 Điều 5 Nghị định số 273/2026/NĐ-CP quy định khi mua hàng miễn thuế, trường hợp thông tin của người mua đã được kết nối, chia sẻ từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc cơ sở dữ liệu chuyên ngành, người mua không phải xuất trình bản giấy của các giấy tờ có chứa thông tin đó.
Quy định này được áp dụng đối với các trường hợp được mua hàng miễn thuế theo Nghị định số 273/2026/NĐ-CP, gồm: Người xuất cảnh, quá cảnh; người nhập cảnh; hành khách trên chuyến bay quốc tế; trường hợp được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ; thuyền viên làm việc trên tàu biển chạy tuyến quốc tế. Theo quy định cũ tại Điều 3 Nghị định số 100/2020/NĐ-CP, khi mua hàng miễn thuế, từng nhóm đối tượng đều phải xuất trình giấy tờ để chứng minh đủ điều kiện mua hàng.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 21/8/2026.
2.    Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong chăn nuôi
Ngày 16/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 211/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chăn nuôi. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 05/8/2026.
Nghị định mới thiết lập chế tài tài chính nghiêm khắc nhằm siết chặt kỷ cương thị trường, với mức phạt tiền tối đa lên đến 100 triệu đồng đối với cá nhân và 200 triệu đồng đối với tổ chức (Điều 6).
Đáng chú ý, các hành vi vi phạm về kinh doanh, sản xuất, xuất nhập khẩu giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi và sản phẩm xử lý chất thải sẽ chịu thời hiệu xử phạt kéo dài đến 2 năm.
Ngoài ra, doanh nghiệp vi phạm còn phải áp dụng các biện pháp chế tài bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép, đình chỉ hoạt động kinh doanh, buộc thu hồi, tái chế hoặc tiêu hủy sản phẩm không đạt tiêu chuẩn, đồng thời bị tịch thu toàn bộ số lợi bất hợp pháp thu được từ hành vi vi phạm.
3.    Ưu đãi và chi phí đấu thầu chọn nhà đầu tư
Ngày 07/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 274/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư kinh doanh. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 21/8/2026.
Nghị định quy định rõ các chính sách ưu đãi tài chính đối với nhà đầu tư ứng dụng công nghệ cao, công nghệ xanh (được ưu đãi 5%), hoặc cam kết chuyển giao công nghệ (được ưu đãi 2%) khi đánh giá hồ sơ dự thầu.
Bên cạnh đó, Nghị định chuẩn hóa định mức chi phí lựa chọn nhà đầu tư: chi phí lập hồ sơ mời thầu tối đa 200 triệu đồng (bằng 0,05% tổng vốn đầu tư), chi phí đánh giá hồ sơ tối đa 200 triệu đồng (bằng 0,03%), và chi phí giải quyết kiến nghị không quá 200 triệu đồng. Giá bán bản điện tử hồ sơ mời thầu quốc tế khống chế tối đa 30 triệu đồng.
4.    “Siết chặt” quản lý, tính đúng số lợi bất hợp pháp từ vi phạm đất đai
Ngày 13/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 281/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 4/10/2024 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Nghị định quy định rõ số lợi bất hợp pháp thu được từ việc sử dụng đất vi phạm phải nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước. Trường hợp nhiều bên cùng vi phạm trên một thửa đất, nghĩa vụ tài chính sẽ được chia đều; đồng thời cho phép khấu trừ các khoản tiền người vi phạm đã nộp ngân sách trước đó.
Bên cạnh đó, Nghị định nâng mức phạt tiền tối đa của Chủ tịch UBND cấp xã lên đến 250 triệu đồng và cấp sở/đoàn kiểm tra lên đến 400 triệu đồng. Quy định phạt từ 2 - 3 triệu đồng với hành vi chậm đăng ký biến động đất đai tiếp tục được duy trì, trừ trường hợp thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 31/8/2026.
5. Từ 15/8/2026, phạt cảnh cáo ô tô chở trẻ em không có thiết bị an toàn phù hợp
Ngày 26/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 238/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 168/2024/NĐ-CP ngày 26/12/2024 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ; trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe.
Một trong các nội dung đáng chú ý của Nghị định số 238/2026/NĐ-CP là bổ sung khoản 1a vào trước khoản 1 Điều 6 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP về xử phạt hành vi chở trẻ em trên xe mà không sử dụng thiết bị an toàn. Theo đó, phạt cảnh cáo đối với người điều khiển xe ô tô thực hiện hành vi chở trẻ em dưới 10 tuổi và chiều cao dưới 1,35 mét trên xe mà không sử dụng thiết bị an toàn phù hợp cho trẻ em theo quy định (trừ xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách).
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/8/2026.
6. Từ 01/01/2028, xe hợp đồng phải chia sẻ dữ liệu hợp đồng vận tải với Bộ Công an
Ngày 19/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 218/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2024/NĐ-CP ngày 18/12/2024 quy định về hoạt động vận tải đường bộ.
Theo đó, Nghị định số 218/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 11, khoản 12 tại Điều 7 Nghị định số 158/2024/NĐ-CP quy định liên quan đến việc kết nối và chia sẻ dữ liệu về các nội dung của Hợp đồng vận tải hành khách. Theo đó, từ ngày 01/01/2028, đơn vị kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng phải thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu về các nội dung của Hợp đồng vận tải hành khách trước khi thực hiện chuyến đi cho Bộ Công an (Cục Cảnh sát giao thông). Dữ liệu từ hệ thống của Bộ Công an (Cục Cảnh sát giao thông) được khai thác sử dụng để phục vụ công tác tuần tra, kiểm soát và nghiệp vụ khác có liên quan; kết nối chia sẻ dữ liệu cho Bộ Xây dựng (Cục Đường bộ Việt Nam), Bộ Tài chính (Cục Thuế, Cục Hải quan), Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Sở Xây dựng) để phục vụ công tác quản lý nhà nước theo chức năng nhiệm vụ.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/8/2026.
7. Từ 01/8/2026, không được tự ý mang laptop, điện thoại, đồng hồ thông tin vào phiên tòa
Ngày 30/5/2026, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp. Theo đó, tại Điều 4 Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC quy định không được mang thiết bị truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ, trao đổi thông tin, dữ liệu số; ví dụ: điện thoại, máy tính bảng, máy tính xách tay, đồng hồ thông minh, thiết bị khác có tính năng ghi âm, ghi hình, thu phát tín hiệu điện tử (sau đây gọi là thiết bị điện tử) vào phiên tòa, phiên họp, trừ trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, chủ trì phiên họp cho phép. Việc sử dụng thiết bị điện tử để tra cứu hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, xét xử trực tuyến hoặc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp đối với người tham gia tố tụng phải theo sự điều hành của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, chủ trì phiên họp;
Việc ghi âm lời nói được thực hiện trong thời gian diễn ra phiên tòa, phiên họp; việc ghi hình ảnh tại phiên tòa, phiên họp chỉ được thực hiện trong thời gian khai mạc phiên tòa, phiên họp và tuyên án, công bố quyết định. Việc ghi âm lời nói trong thời gian diễn ra phiên tòa, phiên họp; ghi hình ảnh của Hội đồng xét xử, Thẩm phán trong thời gian khai mạc phiên tòa, phiên họp và tuyên án, công bố quyết định phải được sự đồng ý của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, chủ trì phiên họp; trường hợp ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của người tiến hành tố tụng khác, người tham gia phiên tòa, phiên họp thì phải được sự đồng ý của họ và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, chủ trì phiên họp. Người tham gia, tham dự phiên tòa, phiên họp không được truyền phát trực tiếp, trực tuyến; không được thông tin sai sự thật; không được thông tin làm ảnh hưởng đến sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, vô tư, khách quan trong xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc; không được vi phạm quyền con người của bị cáo, bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác trong vụ án, vụ việc; không được vi phạm quy định về giữ bí mật theo quy định của pháp luật.
Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2026.
                                                                                                                              Phòng PBGDPL&TDTHPL
II. TIÊU ĐIỂM CHÍNH SÁCH
Quy định của pháp luật về đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài
1. Về thẩm quyền đăng ký kết hôn:
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn.
2. Về thủ tục đăng ký kết hôn:
a) Hình thức nộp hồ sơ: Người yêu cầu đăng ký kết hôn thực hiện nộp hồ sơ trực tiếp tại Trung tâm Phục vụ hành chính công, gửi qua hệ thống bưu chính hoặc nộp hồ sơ trực tuyến tại Cổng dịch vụ công quốc gia (https://dichvucong.gov.vn) hoặc Ứng dụng định danh quốc gia (bên nam hoặc bên nữ có thể nộp hồ sơ mà không cần có văn bản ủy quyền của bên còn lại).
b) Thành phần hồ sơ: Hồ sơ đăng ký kết hôn gồm những giấy tờ sau:
- Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu, có đủ thông tin của hai bên nam, nữ. Hai bên nam, nữ có thể khai chung vào một Tờ khai đăng ký kết hôn (nếu người yêu cầu lựa chọn nộp hồ sơ theo hình thức trực tiếp hoặc gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính);
- Mẫu hộ tịch điện tử tương tác đăng ký kết hôn (nếu người yêu cầu lựa chọn nộp hồ sơ theo hình thức trực tuyến);
- Người yêu cầu đăng ký kết hôn thực hiện việc nộp/xuất trình (theo hình thức trực tiếp) hoặc tải lên (theo hình thức trực tuyến) các giấy tờ sau: 
* Giấy tờ phải nộp, gồm:
+ Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài xác nhận các bên kết hôn không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.
+ Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân cấp còn giá trị sử dụng, xác nhận hiện tại người đó không có vợ hoặc không có chồng; trường hợp nước ngoài không cấp xác nhận tình trạng hôn nhân thì thay bằng giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài xác nhận người đó có đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước đó.
+ Người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài phải nộp bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu.
* Ngoài giấy tờ nêu trên, tùy từng trường hợp, bên nam, bên nữ phải nộp giấy tờ tương ứng sau đây:
+ Công dân Việt Nam là công chức, viên chức hoặc đang phục vụ trong lực lượng vũ trang phải nộp văn bản của cơ quan, đơn vị quản lý xác nhận việc kết hôn với người nước ngoài không trái với quy định của ngành đó;
+ Trường hợp người yêu cầu đăng ký kết hôn đang công tác, học tập, lao động có thời hạn ở nước ngoài thì phải nộp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài cấp.
- Giấy tờ phải xuất trình, gồm:
+ Hộ chiếu/Thẻ căn cước công dân/Thẻ căn cước/Căn cước điện tử/Giấy chứng nhận căn cước hoặc các giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi tắt là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân khi làm thủ tục trực tiếp tại cơ quan đăng ký hộ tịch.
Trường hợp giấy tờ tùy thân sử dụng là: Hộ chiếu, Thẻ căn cước, Căn cước công dân, Giấy chứng nhận căn cước thì người có yêu cầu đăng ký hộ tịch chỉ cần cung cấp thông tin số định danh cá nhân hoặc thông tin về giấy tờ (số, ngày/tháng/năm cấp), cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu thông tin thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc cơ sở dữ liệu khác có liên quan để đối chiếu, khai thác dữ liệu.
Trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác thì cơ quan đăng ký hộ tịch yêu cầu người đi đăng ký hộ tịch xuất trình bản chính giấy tờ để chứng minh, đồng thời đề nghị người đi đăng ký hộ tịch cập nhật, điều chỉnh thông tin trong các cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật.
Trường hợp các thông tin cá nhân trong các giấy tờ này đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, được hệ thống điền tự động thì không phải tải lên (theo hình thức trực tuyến); 
+ Giấy tờ có giá trị chứng minh thông tin về cư trú trong trường hợp cơ quan đăng ký hộ tịch không thể khai thác được thông tin về nơi cư trú của công dân theo các phương thức quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 104/2022/NĐ-CP ngày 21/12/2022 của Chính phủ. Trường hợp các thông tin về giấy tờ chứng minh nơi cư trú đã được khai thác từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư bằng các phương thức này thì người yêu cầu không phải xuất trình (theo hình thức trực tiếp) hoặc tải lên (theo hình thức trực tuyến). 
+ Trường hợp gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính thì phải gửi kèm theo bản sao có chứng thực các giấy tờ phải xuất trình nêu trên.
- Trường hợp nộp hồ sơ trực tuyến thì khi đến cơ quan đăng ký hộ tịch nhận kết quả (Giấy chứng nhận kết hôn), người yêu cầu đăng ký kết hôn phải nộp bản chính giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân (đối với người nước ngoài), giấy xác nhận của tổ chức y tế. 
* Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp, công chứng hoặc xác nhận để sử dụng cho việc đăng ký hộ tịch tại Việt Nam phải được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp được miễn theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
3. Số lượng hồ sơ: 01 bộ
4. Về thời hạn giải quyết: 05 ngày làm việc, trường hợp phải xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 10 ngày làm việc.
5. Lệ phí:
- Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính: 1.200.000 đồng/trường hợp.
- Trường hợp nộp hồ sơ trực tuyến: 0 đồng.
- Miễn lệ phí cho người thuộc gia đình có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; người khuyết tật.
6. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính:
- Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
- Các bên không bị mất năng lực hành vi dân sự;
- Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có giấy tờ cho phép cư trú do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp.
- Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình, gồm:
+ Kết hôn giả tạo;
+ Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
+ Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn với người đang có chồng, có vợ;
+ Kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
* Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
                                                                                                                Phòng Hành chính tư pháp và Bổ trợ tư pháp
III. ĐƯA PHÁP LUẬT VÀO CUỘC SỐNG
CẢNH BÁO HẬU QUẢ PHÁP LÝ TỪ HÀNH VI SỬ DỤNG DAO CÓ TÍNH SÁT THƯƠNG CAO
Thời gian gần đây, tại nhiều địa phương trên cả nước liên tiếp xảy ra các vụ việc sử dụng dao, kiếm và các loại hung khí nguy hiểm để giải quyết mâu thuẫn. Điều đáng lo ngại là không ít vụ việc xuất phát từ những nguyên nhân rất nhỏ như va chạm trong sinh hoạt, mâu thuẫn trên mạng xã hội, xích mích trong học tập hoặc đời sống hằng ngày. Chỉ vì không kiềm chế được cảm xúc, nhiều người đã lựa chọn bạo lực thay vì đối thoại, dẫn đến những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe, tài sản và trật tự an toàn xã hội.
Trong số các loại hung khí được sử dụng để gây án, dao có tính sát thương cao đang trở thành phương tiện phổ biến. Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm cho thấy nhiều đối tượng mang theo dao bên người nhằm mục đích đe dọa, thị uy hoặc sẵn sàng sử dụng khi phát sinh mâu thuẫn. Thậm chí có trường hợp tự chế, hoán cải dao bằng cách gắn thêm cán dài, tuýp sắt hoặc gia cố để tăng khả năng sát thương. Những hành vi này không chỉ trực tiếp đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của người khác mà còn làm gia tăng tâm lý bất an trong cộng đồng dân cư, ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Đáng chú ý, nhiều vụ việc có sự tham gia của thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên. Ở lứa tuổi đang phát triển về tâm sinh lý nhưng chưa hoàn thiện kỹ năng kiểm soát cảm xúc, một số em dễ bị kích động, lôi kéo hoặc hành động bộc phát trong phút nóng giận. Chỉ một hành động thiếu suy nghĩ cũng có thể khiến các em phải đối diện với trách nhiệm hình sự, đánh mất tương lai của bản thân và để lại những nỗi đau không thể bù đắp cho gia đình cũng như xã hội.
Trước thực trạng đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật. Ngày 29/6/2024, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2025. Cùng với đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 149/2024/NĐ-CP và Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư số 75/2024/TT-BCA quy định chi tiết một số điều của Luật, trong đó có quy định cụ thể về danh mục dao có tính sát thương cao. Theo quy định hiện hành, dao có tính sát thương cao bao gồm bốn nhóm chủ yếu là dao sắc, nhọn; dao sắc; dao gấp, dao bấm; dao tự chế hoặc dao hoán cải. Việc xác định một loại dao có thuộc danh mục dao có tính sát thương cao hay không được căn cứ vào các tiêu chí cụ thể về cấu tạo, kích thước và đặc điểm kỹ thuật theo quy định của Bộ Công an.
Cần nhận thức rõ rằng, dao là công cụ phục vụ lao động, sản xuất và sinh hoạt hằng ngày của người dân. Pháp luật không cấm việc sở hữu, sử dụng dao đúng mục đích. Tuy nhiên, khi các loại dao có tính sát thương cao bị sử dụng để xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác trái pháp luật thì tính chất pháp lý của phương tiện này hoàn toàn thay đổi.
Theo điểm d khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024, dao có tính sát thương cao khi được sử dụng để xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật được xác định là vũ khí quân dụng; theo điểm b khoản 4 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024, dao có tính sát thương cao sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công vụ là vũ khí thô sơ. Đây là quy định mới, có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý nghiêm các hành vi sử dụng dao gây án, bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa chung.
Theo đó, tùy tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi và khi đủ căn cứ theo quy định của pháp luật, người thực hiện hành vi ngoài việc bị xem xét xử lý về các tội danh xâm phạm tính mạng, sức khỏe như tội Giết người hoặc tội Cố ý gây thương tích còn có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo Điều 304 Bộ luật Hình sự. Quy định này không nhằm hạn chế việc sử dụng dao trong lao động, sản xuất hoặc sinh hoạt thường ngày của người dân mà hướng đến xử lý nghiêm những trường hợp lợi dụng các loại dao có tính sát thương cao để thực hiện hành vi phạm tội. Đây là bước hoàn thiện quan trọng trong chính sách hình sự của Nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm, bảo vệ tính mạng, sức khỏe của Nhân dân và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Để hạn chế tình trạng sử dụng dao, kiếm và các loại hung khí nguy hiểm trái pháp luật, vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Gia đình cần tăng cường quản lý, giáo dục con em về ý thức chấp hành pháp luật, kỹ năng kiểm soát cảm xúc và ứng xử văn minh trong các mối quan hệ xã hội. Nhà trường cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng giải quyết mâu thuẫn cho học sinh, sinh viên. Các tổ chức đoàn thể cần phát huy vai trò trong việc định hướng nhận thức, xây dựng môi trường sống lành mạnh và phát hiện, ngăn chặn kịp thời những biểu hiện vi phạm. Mỗi người dân cũng cần nâng cao ý thức trách nhiệm đối với bản thân và cộng đồng; tuyệt đối không sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn; không chế tạo, mua bán, tàng trữ, vận chuyển hoặc sử dụng trái phép các loại vũ khí, vũ khí thô sơ, dao có tính sát thương cao. Đồng thời, cần tích cực giao nộp các loại hung khí không còn nhu cầu sử dụng, chủ động tố giác các hành vi vi phạm pháp luật với cơ quan chức năng để kịp thời ngăn chặn những vụ việc đáng tiếc có thể xảy ra.
Phòng ngừa tội phạm không phải là trách nhiệm riêng của lực lượng Công an hay các cơ quan chức năng mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Mỗi hành động đúng pháp luật, mỗi sự can ngăn kịp thời, mỗi tin báo có giá trị của người dân đều góp phần bảo vệ cuộc sống bình yên của cộng đồng. Hơn bao giờ hết, mỗi người cần nhận thức rõ rằng một phút nóng giận có thể dẫn đến những hậu quả không thể khắc phục, trong khi sự bình tĩnh, thượng tôn pháp luật và tinh thần tôn trọng người khác chính là chìa khóa để xây dựng một xã hội an toàn, văn minh và phát triển bền vững.
                                                                                                                                      Phòng PBGDPL&TDTHPL
 

More