Chi tiết tin - Sở Tư pháp
Một số chính sách pháp luật mới có hiệu lực từ tháng 3/2026
.
1. Ngày 11/12/2025, Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư số 143/2025/QH15
Luật Đầu tư quy định về hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và hoạt động đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài. Theo đó, tại khoản 1 Điều 6 quy định cấm các hoạt động đầu tư kinh doanh sau đây:
- Kinh doanh các chất ma túy quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Luật Đầu tư (các chất ma túy cấm đầu tư kinh doanh);
- Kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Luật Đầu tư (danh mục hóa chất, khoáng vật cấm);
- Kinh doanh mẫu vật các loài thực vật, động vật hoang dã có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên quy định tại Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp; mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng, thủy sản nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Luật Đầu tư;
- Kinh doanh mại dâm;
- Mua, bán người, mô, xác, bộ phận cơ thể người, bào thai người;
- Hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người;
- Kinh doanh pháo nổ;
- Kinh doanh dịch vụ đòi nợ;
- Kinh doanh mua bán bảo vật quốc gia;
- Kinh doanh xuất khẩu di vật, cổ vật;
- Kinh doanh thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.
Luật Đầu tư có hiệu lực thi hành từ ngày 01/03/2026.
2. Ngày 11/12/2025, Quốc hội đã ban hành Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15
Luật Phục hồi, phá sản quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành thủ tục phục hồi, phá sản; quyền, nghĩa vụ của người tham gia thủ tục phục hồi, phá sản. Luật Phục hồi, phá sản được áp dụng khi giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; trường hợp Luật này không có quy định thì áp dụng quy định của pháp luật có liên quan. Quy định về thủ tục phục hồi, thủ tục phục hồi rút gọn của Luật này không áp dụng đối với tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm. Trong đó, tại Điều 41 Luật Phục hồi, phá sản quy định về quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản như sau:
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản, Thẩm phán phải ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản.
- Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản có hiệu lực thi hành kể từ ngày ra quyết định.
- Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản của Tòa án phải được gửi cho người nộp đơn, doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ nợ, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan quản lý thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án nhân dân ra quyết định.
- Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, người tham gia thủ tục phá sản có quyền đề nghị xem xét lại, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kiến nghị quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản.
- Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xem xét lại, kiến nghị, Chánh án Tòa án phải xem xét, giải quyết như sau:
+ Giữ nguyên quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản;
+ Hủy quyết định mở thủ tục phá sản hoặc quyết định không mở thủ tục phá sản và ra quyết định không mở thủ tục phá sản hoặc quyết định mở thủ tục phá sản;
+ Hủy quyết định mở thủ tục phá sản hoặc quyết định không mở thủ tục phá sản và đình chỉ việc tiến hành thủ tục phá sản;
+ Đình chỉ giải quyết đề nghị xem xét lại, kiến nghị quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản trong trường hợp người đề nghị rút đơn đề nghị, Viện kiểm sát rút kiến nghị.
- Quyết định của Chánh án Tòa án quy định tại khoản 5 Điều 41 là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành. Quyết định quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều 41 được đăng trên Cổng thông tin điện tử quốc gia về phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Luật Phục hồi, phá sản có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026.
3. Ngày 10/12/2025, Quốc hội đã ban hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 121/2025/QH15
Tại khoản 1 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân giải thích: Giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua việc chủ thể giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Tại Điều 15 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân quy định thẩm quyền của Quốc hội trong việc xem xét kết quả giám sát, như sau:
- Yêu cầu Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội.
- Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 4 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
- Miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Tổng thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn theo quy định của Quốc hội về bỏ phiếu tín nhiệm.
- Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc cách chức, xử lý đối với người có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
- Quyết định các nội dung khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.
Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026.
4. Ngày 10/12/2025, Quốc hội đã ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15
Luật Trí tuệ nhân tạo quy định về nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo (sau đây gọi là hoạt động trí tuệ nhân tạo); quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có liên quan và quản lý nhà nước đối với hoạt động trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam. Trong đó, tại khoản 1 Điều 3 giải thích: Trí tuệ nhân tạo là việc thực hiện bằng điện tử các năng lực trí tuệ của con người, bao gồm học tập, suy luận, nhận thức, phán đoán và hiểu ngôn ngữ tự nhiên. Đồng thời, tại Điều 7 Luật Trí tuệ nhân tạo quy định các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm:
- Lợi dụng, chiếm đoạt hệ thống trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
- Phát triển, cung cấp, triển khai hoặc sử dụng các hệ thống trí tuệ nhân tạo nhằm mục đích sau đây:
+ Thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của luật;
+ Sử dụng yếu tố giả mạo hoặc mô phỏng người, sự kiện thật để lừa dối hoặc thao túng nhận thức, hành vi của con người một cách có chủ đích và có hệ thống, gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của con người;
+ Lợi dụng điểm yếu của nhóm người dễ bị tổn thương, bao gồm trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi để gây tổn hại cho chính họ hoặc người khác;
+ Tạo ra hoặc phổ biến nội dung giả mạo có khả năng gây nguy hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
- Thu thập, xử lý hoặc sử dụng dữ liệu để phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo trái với quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, sở hữu trí tuệ và an ninh mạng.
- Cản trở, vô hiệu hóa hoặc làm sai lệch cơ chế giám sát, can thiệp và kiểm soát của con người đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo theo quy định của Luật này.
- Che giấu thông tin bắt buộc phải công khai, minh bạch hoặc giải trình; tẩy xóa, làm sai lệch các thông tin, nhãn, cảnh báo bắt buộc trong hoạt động trí tuệ nhân tạo.
- Lợi dụng hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá hoặc kiểm định hệ thống trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi trái quy định của luật.
Luật Trí tuệ nhân tạo có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026.
5. Ngày 10/12/2025, Quốc hội đã ban hành Luật Bảo vệ bí mật nhà nước số 117/2025/QH15
Theo đó, tại khoản 1 Điều 2 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước giải thích: Bí mật nhà nước là thông tin có nội dung quan trọng do người có thẩm quyền theo quy định của Luật này xác định, chưa được công khai, nếu bị lộ, bị mất có thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Đồng thời, tại Điều 5 quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ bí mật nhà nước như sau:
- Xác định bí mật nhà nước đối với thông tin không thuộc danh mục bí mật nhà nước.
- Soạn thảo, lưu giữ tài liệu bí mật nhà nước trên máy tính hoặc thiết bị khác đang kết nối với mạng máy tính (trừ mạng LAN độc lập), mạng Internet, mạng viễn thông, trừ trường hợp lưu giữ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về cơ yếu và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Làm lộ, chiếm đoạt, mua, bán bí mật nhà nước; làm sai lệch, hư hỏng, mất tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước.
- Thu thập, trao đổi, cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước trái pháp luật; sao, chụp, lưu giữ, vận chuyển, giao, nhận, thu hồi, tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước trái pháp luật.
- Mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ trái pháp luật.
- Lợi dụng, lạm dụng việc bảo vệ bí mật nhà nước, sử dụng bí mật nhà nước để thực hiện, che giấu hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp hoặc cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Truyền đưa bí mật nhà nước trên mạng máy tính (trừ mạng LAN độc lập), mạng Internet, mạng viễn thông trái với quy định của pháp luật về cơ yếu hoặc quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Sử dụng máy tính, thiết bị khác để soạn thảo, lưu giữ tài liệu bí mật nhà nước khi chưa bảo đảm an ninh, an toàn, phòng, chống xâm phạm bí mật nhà nước.
- Sử dụng thiết bị có tính năng thu, phát tín hiệu, ghi âm, ghi hình trong hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước dưới mọi hình thức khi chưa được người có thẩm quyền cho phép.
- Sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để xâm phạm bí mật nhà nước; đăng tải bí mật nhà nước trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng tải, phát tán bí mật nhà nước trên mạng Internet, mạng viễn thông.
Luật Bảo vệ bí mật nhà nước có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026.
6. Ngày 10/12/2025, Quốc hội đã ban hành Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15
Luật Quy hoạch áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố, cung cấp thông tin, thực hiện, đánh giá, điều chỉnh quy hoạch và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Trong đó, tại khoản 1 Điều 5 quy định Hệ thống quy hoạch bao gồm:
- Quy hoạch cấp quốc gia, gồm: quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch ngành;
- Quy hoạch vùng. Chính phủ xác định các vùng cần lập quy hoạch;
- Quy hoạch tỉnh;
- Quy hoạch chi tiết ngành;
- Quy hoạch đô thị và nông thôn;
- Quy hoạch đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội quy định.
Luật Quy hoạch có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026.
7. Ngày 22/12/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 336/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đường bộ
Nghị định số 336/2025/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh; thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong hoạt động đường bộ thuộc lĩnh vực giao thông đường bộ. Theo đó, tại khoản 2 Điều 10 Nghị định số 336/2025/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
- Không thực hiện công khai, niêm yết công khai tại trạm thu phí theo quy định;
- Tổ chức bán vé, soát vé không kịp thời, sách nhiễu đối với người mua vé; không bán đầy đủ hoặc hạn chế, giới hạn thời gian bán các loại vé tháng, vé quý theo quy định;
- Nhận tiền mặt của người sử dụng phương tiện giao thông đường bộ mà không giao vé hoặc giao vé không đúng chủng loại phương tiện lưu thông qua trạm thu phí;
- Không thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ để phương tiện giao thông đường bộ (đối tượng phải mua vé) không có vé đi qua trạm thu phí.
Nghị định số 336/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026.
8. Ngày 31/12/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 357/2025/NĐ-CP về xây dựng và quản lý hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản
Tại khoản 5 Điều 3 Nghị định số 357/2025/NĐ-CP giải thích: Mã định danh điện tử sản phẩm bất động sản (bao gồm nhà ở và phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng) là chuỗi ký tự số và chữ tối đa không quá 40 ký tự được cấp riêng cho mỗi căn nhà (chung cư, riêng lẻ) hoặc bất động sản trong công trình xây dựng được quản lý trong hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và bất động sản. Trong đó, tại Điều 8 quy định mã định danh điện tử sản phẩm bất động sản là nhà ở như sau:
- Mã định danh điện tử sản phẩm bất động sản là nhà ở được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 357/2025/NĐ-CP gồm các nhóm trường thông tin:
+ Mã định danh thửa đất;
+ Mã số thông tin dự án, công trình xây dựng;
+ Mã định danh địa điểm (nếu có);
+ Dãy ký tự tự nhiên.
- Mã định danh điện tử sản phẩm bất động sản là nhà ở được tạo lập tự động trên hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản và Sở Xây dựng thực hiện gắn thông tin mã định danh điện tử sản phẩm bất động sản là nhà ở với các dự án phát triển nhà ở trên địa bàn cùng thời điểm ban hành văn bản thông báo về nhà ở đủ điều kiện bán nhà ở hình thành trong tương lai.
Nghị định số 357/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026.
9. Ngày 09/01/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 03/2026/NĐ-CP về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện
Theo đó, tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 03/2026/NĐ-CP quy định nghĩa vụ của quỹ xã hội, quỹ từ thiện như sau:
- Quỹ hoạt động trong lĩnh vực nào thì phải chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước về ngành, lĩnh vực đó. Quỹ thực hiện việc tài trợ, hỗ trợ trong phạm vi hoạt động theo điều lệ, trừ trường hợp quỹ tham gia tài trợ, hỗ trợ nhân dân khắc phục khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng, khẩn cấp theo quy định pháp luật;
- Thực hiện tài trợ đúng theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức đã ủy quyền phù hợp với tôn chỉ, mục đích của quỹ;
- Quỹ được thành lập từ các nguồn tài sản hiến, tặng cho hoặc theo di chúc mà không tổ chức quyên góp và nhận tài trợ thì hàng năm phải dành tối thiểu 5% tổng số tài sản để tài trợ cho các chương trình, dự án phù hợp với tôn chỉ, mục đích hoạt động của quỹ;
- Lưu trữ và có trách nhiệm cung cấp đầy đủ hồ sơ, các chứng từ, tài liệu về tài sản, tài chính của quỹ, nghị quyết, biên bản về các hoạt động của quỹ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
- Sử dụng tài sản, tài chính tiết kiệm và hiệu quả theo đúng tôn chỉ, mục đích của quỹ; nộp thuế, phí, lệ phí và thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán, thống kê theo quy định của pháp luật; phải đăng ký mã số thuế và kê khai thuế theo quy định của pháp luật về thuế;
- Chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước; giám sát của các tổ chức, cá nhân tài trợ và cộng đồng theo quy định của pháp luật. Có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ quỹ theo quy định của pháp luật và điều lệ, báo cáo kết quả giải quyết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Hàng năm, quỹ có trách nhiệm công khai các khoản đóng góp, tài sản đã tiếp nhận và kết quả sử dụng trên phương tiện thông tin đại chúng trước ngày 31 tháng 3;
- Khi thay đổi trụ sở chính hoặc Giám đốc, quỹ phải báo cáo bằng văn bản với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập quỹ…
Nghị định số 03/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026.
10. Ngày 02/02/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 51/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 của Chính phủ quy định về bồi hoàn học bổng và chi phí đào tạo
Theo đó, tại Điều 3 Nghị định số 51/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 7a vào sau Điều 7 quy định về xóa hoặc miễn chi phí bồi hoàn như sau:
- Xóa chi phí bồi hoàn trong trường hợp người học đã chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết theo quy định của pháp luật.
- Miễn chi phí bồi hoàn một trong các trường hợp sau:
+ Người học được cơ sở y tế có thẩm quyền xác nhận không đủ sức khỏe để làm việc;
+ Người học chấp hành nghĩa vụ làm việc chưa đủ thời gian theo quy định nhưng sau đó được cơ quan có thẩm quyền quyết định điều động, luân chuyển, biệt phái hoặc chuyển công tác đến vị trí khác;
+ Người học do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng nên không thể chấp hành sự điều động làm việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc bồi hoàn xem xét, quyết định việc miễn chi phí bồi hoàn đối với trường hợp này.
Nghị định số 51/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 26/3/2026.
11. Ngày 29/01/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 47/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 138/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu và giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ theo thủ tục hành chính
Theo đó, tại Điều 4 Nghị định số 47/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 17a vào sau Điều 17 quy định về xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong trường hợp không xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp như sau:
- Xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính để tổ chức bán ngay (bán trực tiếp, không thông qua đấu giá) đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là hàng hóa, vật phẩm nếu không xử lý ngay thì sau khi có quyết định tịch thu hàng hóa, vật phẩm đó có khả năng bị hư hỏng, suy giảm chất lượng bao gồm: thực phẩm tươi sống, dễ bị ôi thiu, khó bảo quản; thuốc chữa bệnh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật mà hạn sử dụng còn dưới 60 ngày theo hạn ghi trên bao bì, nhãn hàng; thực phẩm đã qua chế biến và các loại hàng hóa, vật phẩm khác mà hạn sử dụng còn dưới 30 ngày theo hạn ghi trên bao bì, nhãn hàng; hàng hóa có tính chất thời vụ (hàng tiêu dùng theo mùa, phục vụ lễ, tết), hàng điện tử và các loại hàng hóa, vật phẩm khác do đặc tính tự nhiên, điều kiện bảo quản nếu không xử lý ngay thì sau khi có quyết định tịch thu có khả năng bị hư hỏng, suy giảm chất lượng.
Giá bán hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng, suy giảm chất lượng do người hoặc cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện quyết định dựa trên căn cứ xác định giá theo quy định tại khoản 2 Điều 60 Luật Xử lý vi phạm hành chính hoặc phối hợp với cơ quan tài chính tại địa bàn xảy ra hành vi vi phạm để xác định giá bán của hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng, suy giảm chất lượng.
Việc bán hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng, suy giảm chất lượng phải được lập thành biên bản gồm các nội dung cơ bản sau: thời gian, địa điểm bán; tên, chủng loại, nguồn gốc xuất xứ, số lượng, hiện trạng của hàng hóa, vật phẩm tại thời điểm bán; giá bán; người mua và các nội dung khác có liên quan.
- Xử lý theo quy định tại khoản 5 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính để tiêu hủy đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính quy định tại điểm c khoản 4 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính có nguy cơ gây cháy nổ, ô nhiễm môi trường hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng trong quá trình quản lý, bảo quản, cụ thể:
+ Người hoặc cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ thành lập Hội đồng tiêu hủy để tổ chức tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm. Hội đồng tiêu hủy do người hoặc đại diện cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ làm Chủ tịch, các thành viên khác gồm: đại diện cơ quan tài chính cùng cấp hoặc cơ quan tài chính tại địa bàn xảy ra hành vi vi phạm; đại diện cơ quan, đơn vị đang quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện; đại diện cơ quan chuyên môn liên quan do Chủ tịch Hội đồng tiêu hủy quyết định;
+ Hình thức tiêu hủy và tổ chức thực hiện:
Tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm của hàng hóa, vật phẩm và yêu cầu đảm bảo vệ sinh môi trường, người hoặc cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ quyết định việc tiêu hủy theo một trong các hình thức sau: sử dụng hóa chất; sử dụng biện pháp cơ học; hủy đốt; hủy chôn; hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Việc tiêu hủy phải được lập thành biên bản có đầy đủ chữ ký của các thành viên Hội đồng tiêu hủy. Nội dung chủ yếu của biên bản gồm: căn cứ, lý do thực hiện tiêu hủy; thời gian, địa điểm tiêu hủy; thành viên tham gia tiêu hủy; tên, chủng loại, số lượng, hiện trạng của hàng hóa, vật phẩm tại thời điểm tiêu hủy; hình thức tiêu hủy và các nội dung khác có liên quan.
Nghị định số 47/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/3/2026.
12. Ngày 13/02/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 58/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; quản lý và sử dụng con dấu; quản lý, sử dụng pháo; quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú, Luật Căn cước
Theo đó, tại khoản 7 Điều 3 sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 10 Nghị định số 137/2020/NĐ-CP quy định về quản lý, sử dụng pháo đã được sửa đổi, bổ sung năm 2023 như sau: Bộ trưởng Bộ Công an quyết định tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Công an được phép nghiên cứu, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, cung cấp pháo hoa nổ; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng được phép nghiên cứu, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, cung cấp pháo hoa nổ. Việc cung cấp cho các cơ quan, tổ chức được phép sử dụng pháo hoa nổ chỉ được thực hiện trong các trường hợp quy định tại Điều 11 Nghị định số 58/2026/NĐ-CP.
Nghị định số 58/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/3/2026.
13. Ngày 31/12/2025, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 146/2025/TT-BTC quy định chế độ, lập dự toán, quản lý sử dụng và quyết toán kinh phí đào tạo du học sinh Việt Nam ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước
Theo đó, đối tượng áp dụng của Thông tư số 146/2025/TT-BTC bao gồm: Du học sinh được cử đi học, đào tạo, bồi dưỡng trong khuôn khổ hiệp định, thỏa thuận hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài; Du học sinh được cử đi học, đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài theo các chương trình, đề án đào tạo, bồi dưỡng nhân lực ở nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Cơ quan cử du học sinh đi học, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan được giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện các chương trình, đề án đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài dược cấp có thẩm quyền phê duyệt. Về chi đào tạo trong nước, tại Điều 4 Thông tư số 146/2025/TT-BTC quy định:
- Học phí và các khoản liên quan đến học phí phải trả cho cơ sở đào tạo tại Việt Nam trong trường hợp khóa học có phần thời gian đào tạo, bồi dưỡng tại Việt Nam được chi bằng đồng Việt Nam theo quy định về học phí.
- Mức chi tối đa đối với các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này tương đương 3.500 USD/năm học (ba nghìn năm trăm đô la Mỹ) cho một nghiên cứu sinh trình độ tiến sĩ; 3.000 USD/năm học (ba nghìn đô la Mỹ) cho một học viên đào tạo trình độ thạc sĩ; 2.500 USD/năm học (hai nghìn năm trăm đô la Mỹ) cho một sinh viên đào tạo trình độ đại học theo tỷ giá hạch toán do Bộ Tài chính quy định hàng tháng.
- Trong mức chi tối đa quy định tại khoản 2 Điều 4 bao gồm khoản chi hỗ trợ người học trong thời gian học tập tại Việt Nam với mức hỗ trợ như sau:
+ Đào tạo trình độ tiến sĩ: 1.050.000 đồng Việt Nam/1 người/1 tháng;
+ Đào tạo trình độ thạc sĩ: 900.000 đồng Việt Nam/1 người/1 tháng;
+ Đào tạo trình độ đại học: 750.000 đồng Việt Nam/1 người/1 tháng.
Thông tư số 146/2025/TT-BTC có hiệu lực thi hành từ ngày 01/03/2026.
Phương Nhung
- Một số chính sách pháp luật mới có hiệu lực từ tháng 02/2026 (30/01/2026)
- Một số chính sách pháp luật mới có hiệu lực từ tháng 01/2026 (31/12/2025)
- Chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đến năm 2030 cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo Nghị quyết số 403/NQ-CP ngày 10/12/2025 của Chính phủ (29/12/2025)
- Một số chính sách pháp luật mới có hiệu lực từ tháng 12/2025 (01/12/2025)
- Giới thiệu văn bản pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ (04/11/2025)
- Một số chính sách pháp luật mới có hiệu lực từ tháng 11/2025 (04/11/2025)
- Nghị định số 230/2025/NĐ-CP ngày 19/8/2025 của Chính phủ quy định các trường hợp khác được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định tại khoản 2 Điều 157 Luật Đất đai năm 2024 (30/10/2025)
- Nghị định số 280/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thưc chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 07/2025/NĐ-CP. (30/10/2025)
- Một số chính sách pháp luật mới có hiệu lực từ tháng 10/2025 (10/10/2025)
- Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2025 – 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị (06/10/2025)









