Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 5

  • Hôm nay 1223

  • Tổng 3.163.820

THẨM QUYỀN XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH CỦA CHỦ TỊCH UBND CẤP XÃ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

8:20, Thứ Hai, 15-6-2026

Xem với cỡ chữ : A- A A+

Năm 2025, thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy theo Nghị quyết số 18-NQ/TW  ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, hệ thống tổ chức các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội từ Trung ương đến địa phương được tổ chức lại đồng bộ, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành kịp thời đồng bộ các chủ trương, quy định để chỉ đạo thực hiện. Hệ thống các văn bản mới ban hành cơ bản bảo đảm đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý để thực hiện sắp xếp kịp thời, bảo đảm không trùng giẫm, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, theo hướng đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho các cấp cơ sở; bảo đảm giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Bên cạnh đó, còn nhiều quy định không còn phù hợp, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền khẩn trương rà soát sửa đổi, ban hành các quy định mới nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, xử lý các quy định chưa đầy đủ, không phù hợp/các tình huống mới phát sinh; đồng thời tạo chế tài đủ mạnh, răn đe đối với các hành vi vi phạm trong hoạt động của các tổ chức, cá nhân. Việc hoàn thiện thể chế đã được triển khai thực hiện khẩn trương, nghiêm túc, đồng bộ. Quốc hội đã thông qua nhiều văn bản sửa đổi, bổ sung các luật để quản lý xã hội. Mặt khác, nhằm kịp thời xử lý các hành vi vi phạm hành chính xảy ra trong xã hội trong quá trình thực hiện việc sắp xếp bộ máy, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025); Chính phủ đã ban hành Nghị định 68/2025/NĐ-CP ngày 18/3/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 118/2021/NĐ-CP và đã ban hành trên 16 nghị định về xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực.
Trong lĩnh vực tư pháp, Chính phủ đã ban hành Nghị định 109/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (có hiệu lực từ 18/5/2026). Việc ban hành Nghị định số 109/2026/NĐ-CP là cấp thiết để hoàn thiện chế tài nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, trong đó có hoạt động đấu giá tài sản; khắc phục các vướng mắc, tạo căn cứ pháp lý rõ ràng để ngăn chặn vi phạm và bảo vệ an toàn pháp lý cho giao dịch dân sự, củng cố lòng tin của người dân; đồng thời phù hợp với thực tiễn tinh gọn tổ chức bộ máy sau khi bỏ chính quyền địa phương cấp huyện, Thanh tra Sở, phân cấp thẩm quyền cho Chủ tịch UBND cấp xã. 
Theo đó, Điều 84 Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền: (i) Phạt cảnh cáo; (ii) Phạt tiền đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình; đến 25.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; (iii) Đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề, thẻ tư vấn viên pháp luật, thẻ công chứng viên, thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý; (iv) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; (v) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật; các biện pháp khác được quy định cụ thể tại các Chương II, III, IV, V, VI và VII Nghị định 109/2026/NĐ-CP. Các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong hoạt động đấu giá tài sản được quy định tại Mục 7 Nghị định 109/2026/NĐ-CP (từ Điều 27 đến Điều 30). Mục này quy định về: Hành vi vi phạm quy định về hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề đấu giá; đề nghị đăng ký hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản, chi nhánh của doanh nghiệp đấu giá tài sản; thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, cấp lại giấy đăng ký hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản; hành vi vi phạm quy định của đấu giá viên; hành vi vi phạm quy định của người tham gia đấu giá, người có tài sản đấu giá và người khác có liên quan đến hoạt động đấu giá tài sản; hành vi vi phạm quy định về hoạt động của tổ chức hành nghề đấu giá tài sản. Trong đó, Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền xử phạt hành vi vi phạm của đấu giá viên tại Điều 28 của Nhị định số 109/2026/NĐ-CP như sau:
Khoản 1 Điều 28 phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: 
a) Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung chứng chỉ hành nghề đấu giá;
b) Thỏa thuận trái pháp luật với cá nhân, tổ chức có liên quan trong hoạt động đấu giá tài sản làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba, trừ trường hợp: Lập danh sách khống về người đăng ký tham gia đấu giá hoặc lập hồ sơ khống hoặc lập hồ sơ giả về người tham gia đấu giá mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Thông đồng dìm giá hoặc nâng giá trong hoạt động đấu giá mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Cho phép người không đủ điều kiện tham gia đấu giá tham dự phiên đấu giá.
c) Biết mà không yêu cầu người tập sự hành nghề đấu giá do mình hướng dẫn chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật về đấu giá tài sản trong quá trình tập sự tại tổ chức hành nghề đấu giá tài sản đó; 
d) Không tham gia bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đấu giá hàng năm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Khoản 2 Điều 28 phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: 
a) Không dừng phiên đấu giá khi có đề nghị của người có tài sản về việc đấu giá viên có hành vi thông đồng, móc nối để làm sai lệch thông tin tài sản đấu giá, dìm giá, làm sai lệch hồ sơ đấu giá hoặc kết quả đấu giá tài sản; 
b) Không dừng phiên đấu giá theo đề nghị của người có tài sản khi người tham gia đấu giá có một trong các hành vi sau: thông đồng, móc nối để dìm giá, làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản; cản trở hoạt động đấu giá tài sản; gây rối, mất trật tự tại cuộc đấu giá; đe dọa, cưỡng ép đấu giá viên, người tham gia đấu giá nhằm làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản; 
c) Biết mà không truất quyền tham dự phiên đấu giá khi người tham gia đấu giá có một trong các hành vi sau: cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; sử dụng giấy tờ giả mạo để đăng ký tham gia đấu giá, tham dự phiên đấu giá; thông đồng, móc nối với đấu giá viên, tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá khác, cá nhân, tổ chức khác để dìm giá, nâng giá, làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; cản trở hoạt động đấu giá tài sản; gây rối, mất trật tự tại phiên đấu giá; đe dọa, cưỡng ép đấu giá viên, người tham gia đấu giá khác nhằm làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản; nhận ủy quyền tham gia đấu giá của người tham gia đấu giá khác đối với tài sản mà mình cũng là người tham gia đấu giá tài sản đó; nhận ủy quyền tham gia đấu giá của từ hai người tham gia đấu giá trở lên đối với cùng một tài sản; tham dự phiên đấu giá trong trường hợp vợ, chồng, anh ruột, chị ruột, em ruột cũng là người tham gia đấu giá đối với tài sản đó; tham dự phiên đấu giá trong trường hợp công ty mẹ, công ty con, các doanh nghiệp mà cá nhân, tổ chức hoặc nhóm cá nhân, tổ chức có khả năng chi phối hoạt động của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp cũng là người tham gia đấu giá đối với tài sản đó; 
d) Không truất quyền tham dự phiên đấu giá khi người trả giá cao nhất rút lại giá đã trả hoặc người chấp nhận giá rút lại giá đã chấp nhận trước khi đấu giá viên công bố người trúng đấu giá; 
đ) Không trực tiếp điều hành phiên đấu giá nhưng vẫn ký biên bản đấu giá; 
e) Hạn chế người tham gia đấu giá trong quá trình tham gia đấu giá; 
g) Điều hành phiên đấu giá không đúng hình thức đấu giá, phương thức đấu giá theo quy chế cuộc đấu giá đã ban hành; điều hành phiên đấu giá không đúng trình tự theo quy định; 
h) Điều hành phiên đấu giá trong trường hợp chỉ có một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá không đúng quy định; 
i) Tự xác định bước giá hoặc điều hành phiên đấu giá không theo bước giá đã công bố; 
k) Công bố không đúng giá do người tham gia đấu giá trả.
Khoản 3 Điều 28 phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi cho người khác sử dụng chứng chỉ hành nghề đấu giá để hành nghề đấu giá.
Khoản 4 Điều 28 phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: 
a) Không phải là đấu giá viên mà điều hành phiên đấu giá, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; 
b) Công bố không đúng người trúng đấu giá; 
c) Để lộ thông tin về người đăng ký tham gia đấu giá.
Khoản 6 Điều 28 tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề đấu giá từ 09 tháng đến 12 tháng đối với một trong các hành vi sau: 
a) Lập danh sách khống về người đăng ký tham gia đấu giá hoặc lập hồ sơ khống hoặc lập hồ sơ giả về người tham gia đấu giá mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; 
b) Thông đồng dìm giá hoặc nâng giá trong hoạt động đấu giá mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; 
c) Đồng thời hành nghề tại 02 tổ chức hành nghề đấu giá tài sản trở lên hoặc kiêm nhiệm hành nghề công chứng hoặc thừa phát lại; 
d) Cho phép người không đủ điều kiện tham gia đấu giá tham dự phiên đấu giá.
Khoản 7 Điều 28 hình thức xử phạt bổ sung 
a) Tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề đấu giá từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm: 
- Biết mà không truất quyền tham dự phiên đấu giá khi người tham gia đấu giá có một trong các hành vi sau: cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; sử dụng giấy tờ giả mạo để đăng ký tham gia đấu giá, tham dự phiên đấu giá; thông đồng, móc nối với đấu giá viên, tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá khác, cá nhân, tổ chức khác để dìm giá, nâng giá, làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; cản trở hoạt động đấu giá tài sản; gây rối, mất trật tự tại phiên đấu giá; đe dọa, cưỡng ép đấu giá viên, người tham gia đấu giá khác nhằm làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản; nhận ủy quyền tham gia đấu giá của người tham gia đấu giá khác đối với tài sản mà mình cũng là người tham gia đấu giá tài sản đó; nhận ủy quyền tham gia đấu giá của từ hai người tham gia đấu giá trở lên đối với cùng một tài sản; tham dự phiên đấu giá trong trường hợp vợ, chồng, anh ruột, chị ruột, em ruột cũng là người tham gia đấu giá đối với tài sản đó; tham dự phiên đấu giá trong trường hợp công ty mẹ, công ty con, các doanh nghiệp mà cá nhân, tổ chức hoặc nhóm cá nhân, tổ chức có khả năng chi phối hoạt động của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp cũng là người tham gia đấu giá đối với tài sản đó; 
- Không truất quyền tham dự phiên đấu giá khi người trả giá cao nhất rút lại giá đã trả hoặc người chấp nhận giá rút lại giá đã chấp nhận trước khi đấu giá viên công bố người trúng đấu giá; 
- Không trực tiếp điều hành phiên đấu giá nhưng vẫn ký biên bản đấu giá; 
- Điều hành phiên đấu giá không đúng hình thức đấu giá, phương thức đấu giá theo quy chế cuộc đấu giá đã ban hành; điều hành phiên đấu giá không đúng trình tự theo quy định; 
- Cho người khác sử dụng chứng chỉ hành nghề đấu giá để hành nghề đấu giá.
b) Tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề đấu giá từ 06 tháng đến 09 tháng đối với hành vi vi phạm điều hành phiên đấu giá trong trường hợp chỉ có một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá không đúng quy định;
Khoản 8 Điều 28 biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Hủy bỏ kết quả đấu giá tài sản:
* Hủy bỏ kết quả đấu giá tài sản đối với hành vi vi phạm sau trong trường hợp làm sai lệch kết quả đấu giá: 
- Hạn chế người tham gia đấu giá trong quá trình tham gia đấu giá; 
- Điều hành phiên đấu giá không đúng hình thức đấu giá, phương thức đấu giá theo quy chế cuộc đấu giá đã ban hành; điều hành phiên đấu giá không đúng trình tự theo quy định; 
- Công bố không đúng giá do người tham gia đấu giá trả; 
- Lập danh sách khống về người đăng ký tham gia đấu giá hoặc lập hồ sơ khống hoặc lập hồ sơ giả về người tham gia đấu giá mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Thông đồng dìm giá hoặc nâng giá trong hoạt động đấu giá mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. 
* Hủy bỏ kết quả đấu giá tài sản đối với hành vi vi phạm sau trong trường hợp người không đủ điều kiện tham gia đấu giá là người trúng đấu giá:
- Không phải là đấu giá viên mà điều hành phiên đấu giá, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; 
- Công bố không đúng người trúng đấu giá; 
- Cho phép người không đủ điều kiện tham gia đấu giá tham dự phiên đấu giá. 
b) Buộc hủy quyết định phê duyệt kết quả đấu giá tài sản, hủy bỏ giao kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, hủy bỏ hợp đồng mua bán tài sản đấu giá đối với các trường hợp quy định tại điểm a khoản 8 Điều 28 nêu trên;
c) Buộc nộp lại chứng chỉ hành nghề đấu giá bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung cho cơ quan, người có thẩm quyền đã cấp đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 nêu trên;
d) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a và điểm b khoản 2; các khoản 3, 4 và 6 Điều 28 nêu trên.
Như vậy, chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền xử phạt các hành vi vi phạm của đấu giá viên nêu trên, trừ quy định tại khoản 5 Điều 28 Nghị định 109/2026/NĐ-CP (Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Điều hành phiên đấu giá cho tổ chức không phải là tổ chức hành nghề đấu giá mà mình đã đăng ký hành nghề hoặc tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng hoặc hội đồng đấu giá tài sản; Lợi dụng danh nghĩa đấu giá viên để trục lợi ) và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Khoản 5 Điều này.
                                                                                                                                                                                          Ths. Võ Tuyết Hà

Các tin khác