Chi tiết tin - Sở Tư pháp
Một số điểm mới của Luật Công chứng sửa đổi năm 2024
Chiều ngày 26/11/2024, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Công chứng sửa đổi (gọi tắt Luật), với kết quả 450/453 đại biểu tán thành, đạt 93,95%. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2025. Luật gồm có 08 chương 76 Điều (giảm 02 chương và 05 điều so với Luật Công chứng năm 2014), sau đây là một số điểm mới cơ bản của Luật:
Thứ nhất: Luật đã làm rõ khái niệm công chứng
Tại khoản 1 Điều 2 Luật đã quy định: Công chứng là dịch vụ công do công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện để chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của giao dịch mà luật quy định phải công chứng, luật giao Chính phủ quy định phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.
Giao dịch phải công chứng là giao dịch quan trọng, đòi hỏi mức độ an toàn pháp lý cao và được luật quy định hoặc luật giao Chính phủ quy định phải công chứng. Bộ Tư pháp có trách nhiệm rà soát, cập nhật, đăng tải các giao dịch phải công chứng, chứng thực trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp (Điều 3)
Như vậy, với quy định nêu trên, thì việc chứng nhận bản dịch không còn thuộc phạm vi hoạt động công chứng. Và đối với các hợp đồng, giao dịch quan trọng, đòi hỏi mức độ an toàn pháp lý cao sẽ được Bộ Tư pháp công bố để thực hiện thống nhất trong toàn quốc, qua đó giúp cá nhân, tổ chức thuận lợi trong việc xác định các giao dịch phải công chứng, tăng tính minh bạch trong quá trình áp dụng pháp luật của các công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng.
Thứ hai, Luật đã quy định cụ thể hành vi nghiêm cấm đối với từng nhóm đối tượng có liên quan trong quá trình công chứng
Tại Điều 9 Luật đã quy định 27 hành vi bị nghiêm cấm cho các nhóm đối tượng có liên quan (tăng 11 hành vi so với Luật Công chứng năm 2014), trong đó đối với Công chứng viên có 11 hành vi, đối với Tổ chức hành nghề công chứng có 11 hành vi và đối với cá nhân, tổ chức có 5 hành vi. Việc tăng các hành vi bị nghiêm cấm cho từng nhóm đối tượng, nhằm nâng cao chất lượng hành nghề của đội ngũ công chứng viên và các tổ chức hành nghề công chứng đồng thời cũng nâng cao trách nhiệm, ý thức của cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc công chứng.
Thứ ba, Luật sửa đổi nhiều điểm về tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên
So với Luật công chứng 2014, thì Luật công chứng năm 2024 đã bổ sung tiêu chuẩn giới hạn độ tuổi hành nghề công chứng. Đây là chức danh hành nghề trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp đầu tiên được giới hạn độ tuổi hành nghề đến 70 tuổi. Đồng thời, Luật cũng có điều khoản chuyển tiếp quy định đối với công chứng viên quá 70 tuổi đang hành nghề công chứng tại thời điểm Luật có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục hành nghề công chứng trong thời hạn tối đa là 02 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành; công chứng viên từ đủ 68 đến đủ 70 tuổi tại ngày Luật có hiệu lực thi hành thì được hành nghề công chứng đến khi đủ 72 tuổi. Khi hết thời hạn đó công chứng viên nào quá độ tuổi nêu trên thì đương nhiên miễn nhiệm.
Luật cũng quy định giảm thời gian công tác pháp luật từ 5 năm xuống còn 3 năm; bổ sung thêm tiêu chuẩn Thạc sỹ luật hoặc tiến sĩ luật vào tiêu chuẩn trình độ.Theo đó, tiêu chuẩn về trình độ để bổ nhiệm công chứng viên là có bằng cử nhân luật hoặc thạc sĩ luật hoặc tiến sĩ luật.
Thứ tư, về đào tạo nghề công chứng
Để nâng cao chất lượng đầu vào, nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp trong hoạt động hành nghề công chứng của đội ngũ công chứng viên, Luật đã bỏ quy định về miễn đào tạo nghề công chứng đối với một số đối tượng[1] mà thay vào đó, các đối tượng muốn bổ nhiệm công chứng viên đều phải tham gia đào tạo nghề công chứng, thời gian đào tạo nghề trong thời hạn 12 tháng, trừ một số trường hợp có trình độ pháp luật cao, có thời gian giữ một số chức danh pháp lý cụ thể thì thời gian đào tạo nghề 6 tháng[2] . Và sau khi tốt nghiệp khóa đào tạo, tất cả các đối tượng đều phải tập sự 12 tháng.
Thứ năm, về mô hình hoạt động của Tổ chức hành nghề công chứng
- Phòng công chứng: Để đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý công chứng, Luật đã giao cho Giám đốc Sở Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Trưởng Phòng công chứng thay vì giao cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh như hiện nay. Đồng thời, để đảm bảo sự ổn định, thống nhất và công bằng giữa các Tổ chức hành nghề công chứng, Luật đã quy định Phòng Công chứng phải có có từ 02 công chứng viên trở lên; tại các địa bàn cấp huyện được thành lập Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân thì Phòng công chứng có thể có 01 công chứng viên. Luật cũng cho phép các Phòng công chứng hiện nay đang được 01 công chứng viên thì được tiếp tục hoạt động và trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành (tức đến ngày 01/7/2026) phải đáp ứng điều kiện có từ 02 công chứng viên trở lên.
- Về văn phòng công chứng: Luật quy định thông thoáng hơn về đặt tên Văn phòng Công chứng (VPCC), không bắt buộc đặt tên VPCC theo họ tên của một trong số các công chứng viên hợp danh như hiện nay; về loại hình hoạt động của VPCC, ngoài hoạt động theo loại hình công ty hợp danh, Luật cho phép VPCC được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân tại các đơn vị hành chính cấp huyện có mật độ dân số thấp, cơ sở hạ tầng và dịch vụ chưa phát triển và khó khăn trong việc thành lập VPCC theo loại hình công ty hợp danh. Chính phủ sẽ quy định danh mục các đơn vị hành chính cấp huyện được thành lập VPCC được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân và việc chuyển đổi loại hình VPCC tại các đơn vị hành chính cấp huyện này; ngoài 2 hình thức hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng VPCC như hiện nay, Luật còn quy định thêm hình thức bán VPCC được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Và cũng quy định cụ thể điều kiện của bên bán và bên mua VPCC, cụ thể: Sau khi VPCC đã hoạt động được ít nhất 02 năm, Trưởng Văn phòng công chứng của VPCC được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân có quyền bán VPCC của mình cho 01 công chứng viên khác. Công chứng viên mua VPCC phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: Đã hành nghề công chứng từ đủ 02 năm trở lên; Trường hợp đã là công chứng viên hợp danh hoặc Trưởng Văn phòng công chứng của VPCC được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân thì đã hết thời hạn 02 năm kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên hợp danh hoặc kể từ ngày không còn là Trưởng Văn phòng công chứng của VPCC được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân; cam kết hành nghề với tư cách Trưởng Văn phòng công chứng tại VPCC mà mình sẽ mua.
Thứ sáu, quy định về hành nghề công chứng của Công chứng viên
- Bổ sung thêm 01 hình thức hành nghề là công chứng viên làm việc theo chế độ hợp đồng lao động tại Phòng Công chứng, theo đó, các hình thức hành nghề công chứng bao gồm: Công chứng viên là viên chức của Phòng công chứng; Công chứng viên là thành viên hợp danh của Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh hoặc công chứng viên là Trưởng Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân; Công chứng viên làm việc theo chế độ hợp đồng lao động tại Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng.
- Quy định cụ thể trách nhiệm chấm dứt tư cách thành viên của công chứng viên hợp danh: Trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên hợp danh, công chứng viên đã chấm dứt tư cách thành viên hợp danh vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của Văn phòng công chứng phát sinh trong thời gian là thành viên hợp danh của Văn phòng công chứng đó; hết thời hạn này, công chứng viên mới được thành lập, tham gia thành lập Văn phòng công chứng mới, hợp danh vào Văn phòng công chứng khác hoặc mua Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân.Việc quy định nhằm một mặt nâng cao trách nhiệm của công chứng viên hợp danh đối với VPCC nơi mình hành nghề, mặt khác, khắc phục tình trạng xin rút, xin gia nhập công chứng viên hợp danh một cách “tùy tiện” như hiện nay, qua đó để giúp đội ngũ công chứng viên hoạt động ổn định hơn, thực chất hơn, hạn chế tình trạng “đánh trống ghi tên”.
- Bổ sung quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác trong trường công chứng viên, nhân viên trực tiếp gây thiệt hại ngay cả khi không còn là công chứng viên hoặc nhân viên của 01 tổ chức hành nghề công chứng. Quy định này, thể hiện quyền lợi đi đôi với trách nhiệm “trọn đời” của công chứng viên đối với các hợp đồng, giao dịch do mình đã chứng nhận. Đồng thời, qua đó nâng cao hơn ý thức, trách nhiệm nghề nghiệp của Công chứng viên trong quá trình hành nghề.
Thứ bảy, về thủ tục công chứng giao dịch
- Hồ sơ yêu cầu công chứng: Bỏ Phiếu yêu cầu công chứng; các bản sao giấy tờ có trong thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng mà đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật thì người yêu cầu công chứng không phải nộp các giấy tờ này nhưng phải nộp phí khai thác dữ liệu theo quy định của pháp luật để tổ chức hành nghề công chứng khai thác dữ liệu.
- Quy định mở rộng hơn các trường hợp không bắt buộc phải công chứng trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, cụ thể trường hợp như sau: công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản, văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền đối với bất động sản, thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng về bất động sản và công chứng việc sửa đổi, bổ sung, chấm dứt, hủy bỏ các giao dịch này theo quy định của pháp luật.
- Về thời hạn công chứng: ngoài quy định về thời hạn công chứng như hiện hành, Luật còn cho phép người yêu cầu công chứng có quyền thỏa thuận bằng văn bản với tổ chức hành nghề công chứng về thời hạn công chứng trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan hoặc do nguyên nhân từ phía người yêu cầu công chứng dẫn đến không bảo đảm thời hạn theo quy định Luật.
- Công chứng ngoài trụ sở: Các trường hợp sau đây, người yêu cầu công chứng có quyền yêu cầu công chứng ngoài trụ sở: Lập di chúc tại chỗ ở theo quy định của Bộ luật Dân sự; không thể đi lại được vì lý do sức khỏe; đang điều trị nội trú hoặc bị cách ly theo chỉ định của cơ sở y tế; đang bị tạm giữ, tạm giam; đang thi hành án phạt tù; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; có lý do chính đáng khác theo quy định của Chính phủ. Như vậy, để khắc phục tình trạng không có sự thống nhất trong việc xác định “lý do chính đáng khác” như hiện nay, Luật đã giao Chính phủ quy định cụ thể các trường hợp xác định “lý do chính đáng khác” không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng. Quy định này đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho cơ quan quản lý nhà nước khi thanh tra, kiểm tra về hoạt động công chứng, trong đó có nội dung về công chứng ngoài trụ sở.
- Việc ký, điểm chỉ trong văn bản công chứng: Về cơ bản không sửa đổi nhiều, tuy nhiên Luật có quy định một điểm mới hoàn toàn, đó là việc ký văn bản công chứng trước sự chứng kiến của công chứng viên phải được chụp ảnh và lưu trữ trong hồ sơ công chứng. Việc quy định để khắc phục tình trạng một trong các bên giao dịch vì lý do nào đó muốn tìm cách hủy bỏ hợp đồng nên đưa ra lý do không đến trụ sở công chứng.
Thứ tám, Quy định về công chứng điện tử
Luật đã bổ sung 1 Mục, với 4 Điều quy định về công chứng điện tử, theo đó đã quy định cụ thể nguyên tắc và phạm vi công chứng điện tử, đồng thời giao Chỉnh phủ căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ công chứng điện tử trong từng thời kỳ, để quy định về phạm vi các giao dịch được công chứng điện tử. Như vậy, không phải tất cả giao dịch đều được công chứng điện tử mà tùy vào từng giao dịch theo quy định của Chính phủ để xác định giao dịch đó có thuộc trường hợp được công chứng điện tử hay không.
Và để thực hiện được dịch vụ công chứng điện tử Luật cũng đã quy định Công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
+ Đối với Công chứng viên phải: Có tài khoản để thực hiện công chứng điện tử; Có chữ ký số và sử dụng dịch vụ cấp dấu thời gian theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
+ Đối với tổ chức hành nghề công chứng phải: Có tài khoản để thực hiện công chứng điện tử; Có chữ ký số và sử dụng dịch vụ cấp dấu thời gian theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử; Có đủ trang thiết bị kỹ thuật để thực hiện công chứng điện tử.
Về giá trị pháp lý của văn bản điện tử. Văn bản công chứng điện tử có hiệu lực kể từ thời điểm được ký bằng chữ ký số của công chứng viên và chữ ký số của tổ chức hành nghề công chứng. Văn bản công chứng điện tử có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan, là cơ sở để các bên tham gia giao dịch đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các thủ tục liên quan đến giao dịch đã được công chứng. Văn bản công chứng điện tử có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng điện tử không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu./.
Diệu Hương
[1] Người đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên từ 05 năm trở lên; Luật sư đã hành nghề từ 05 năm trở lên; Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật; Người đã là thẩm tra viên cao cấp ngành tòa án, kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát; chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật.
[2] Khoản 3 Điều 11 Luật quy định những người sau đây có thời gian đào tạo nghề công chứng là 06 tháng:
a) Người đã có thời gian từ đủ 05 năm trở lên làm thẩm phán; kiểm sát viên; điều tra viên; thẩm tra viên chính ngành Tòa án; chấp hành viên trung cấp, thẩm tra viên chính thi hành án dân sự; kiểm tra viên chính ngành kiểm sát; trợ giúp viên pháp lý hạng II; thanh tra viên chính ngành tư pháp; chuyên viên chính, pháp chế viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật;
b) Thừa phát lại, luật sư, đấu giá viên đã hành nghề từ đủ 05 năm trở lên;
c) Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật; tiến sĩ luật;
d) Người đã là thẩm tra viên cao cấp ngành Tòa án; chấp hành viên cao cấp, thẩm tra viên cao cấp thi hành án dân sự; kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát; trợ giúp viên pháp lý hạng I; thanh tra viên cao cấp ngành tư pháp; chuyên viên cao cấp, pháp chế viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật.
- Quyết định công nhận hoàn thành tập sự hành nghề công chứng (03/02/2025)
- Quyết định công nhận hoàn thành tập sự hành nghề công chứng (22/01/2025)
- Sở Tư pháp tổ chức hội nghị tập huấn nghiệp vụ và bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giám định tư pháp (17/06/2024)
- Thông báo: Về đăng ký hoạt động của Văn phòng luật sư Công Bằng – Chi nhánh thị xã Ba Đồn (24/01/2024)
- Thông báo ghi nhận việc hoàn thành thời gian và các nghĩa vụ của Người tập sự (Bà Bùi Ngọc Huệ) (17/08/2023)
- Sở Tư pháp Quảng Bình ban hành Kết luận thanh tra chuyên ngành về công chứng, chứng thực tại Văn phòng Công chứng Bùi Thị Thu Hằng (14/08/2023)
- Sở Tư pháp Quảng Bình ban hành Kết luận thanh tra chuyên ngành về công chứng, chứng thực tại Văn phòng Công chứng Lê Ngọc Lệ (23/06/2023)
- Sở Tư pháp Quảng Bình ban hành Kết luận thanh tra chuyên ngành về Luật sư (31/03/2023)
- Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án "Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” và “Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2017 - 2024” tỉnh: Triển khai nhiệm vụ năm 2023 (30/03/2023)
- Danh sách người tập sự hành nghề Công chứng tại tỉnh Quảng Bình (13/12/2022)









