Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 2

  • Hôm nay 163

  • Tổng 9.207.933

Một số chính sách mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2019

13:57, Thứ Ba, 3-9-2019

Xem với cỡ chữ : A- A A+

Ngày 19/6/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 54/2019/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường
Theo đó, doanh nghiệp, hộ kinh doanh có trách nhiệm không được hoạt động dịch vụ karaoke từ 00 giờ sáng đến 08 giờ sáng; không được hoạt động dịch vụ vũ trường từ 02 giờ sáng đến 08 giờ sáng. Như vậy, so với quy định hiện hành thì quy định mới đã không còn ngoại lệ về việc cho phép vũ trường, phòng karaoke trong các cơ sở lưu trú du lịch được xếp hạng từ 4 sao trở lên hoặc hạng cao cấp được hoạt động sau 12 giờ đêm nhưng không quá 2 giờ sáng. Ngoài ra, các cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường không được đặt chốt cửa bên trong phòng hoặc thiết bị báo động (trừ thiết bị báo cháy nổ). Riêng dịch vụ vũ trường không được cung cấp cho người chưa đủ 18 tuổi. Trường hợp, vũ trường có chương trình biểu diễn nghệ thuật phải thực hiện theo quy định của pháp luật về biểu diễn nghệ thuật.
Nghị định số 54/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/9/2019. Sau 03 tháng kể từ ngày Nghị định số 54/2019/NĐ-CP có hiệu lực, các doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã được cấp Giấy phép trước ngày 01/9/2019 nhưng không đảm bảo các điều kiện kinh doanh mới phải chấm dứt hoạt động.
2. Ngày 11/7/2019 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa
Theo đó, đối tượng có nhu cầu chuyển đổi cây trồng trên đất trồng lúa sẽ thực hiện thủ tục như sau: gửi 01 bản đăng ký theo mẫu tại Phụ lục I ban hành kèm Nghị định số 62/2019/NĐ-CP đến UBND cấp xã. Trường hợp bản đăng ký không hợp lệ thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, UBND cấp xã phải hướng dẫn cho người sử dụng đất chỉnh sửa, bổ sung bản đăng ký. Nếu bản đăng ký hợp lệ và phù hợp với kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng, trong 05 ngày làm việc, UBND cấp xã có ý kiến “Đồng ý cho chuyển đổi”, đóng dấu vào bản đăng ký, vào sổ theo dõi và gửi lại cho người sử dụng đất. Trường hợp không đồng ý, UBND cấp xã phải trả lời bằng văn bản theo mẫu tại  Phụ lục II ban hành kèm Nghị định này.
Nghị định số 62/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/9/2019.
3. Ngày 11/7/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước
Theo đó, Nghị định quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với các lĩnh vực trên là 01 năm. Riêng các hành vi vi phạm hành chính đối với tài sản công là nhà, đất và tài sản có kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, quản lý thì thời hiệu xử phạt là 02 năm. Hình thức xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Nghị định bao gồm: cảnh cáo và phạt tiền. Mức phạt tiền tối đa trong quản lý, sử dụng tài sản công, dự trữ quốc gia, kho bạc Nhà nước là 50 triệu đồng với cá nhân và 100 triệu đồng với tổ chức. Mức phạt tiền tăng gấp đôi lên 100 triệu đồng với cá nhân và 200 triệu đồng với tổ chức trong lĩnh vực thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Với hành vi sử dụng điện, xăng, dầu, điện thoại, văn phòng phẩm, tổ chức hội nghị….bằng kinh phí Nhà nước vượt tiêu chuẩn, định mức sẽ bị phạt tiền từ 01 - 02 triệu đồng. Trường hợp cho thuê trụ sở làm việc, xe ô tô công khi không có quyết định phê duyệt, mức xử phạt từ 15 - 20 triệu đồng. Trường hợp tự ý bán thanh lý xe ô tô khi dự án kết thúc, chưa có quyết định phê duyệt cũng bị phạt tới 20 triệu đồng.Trường hợp cá nhân có cùng những hành vi nêu trên thì mức phạt bằng ½ mức phạt đối với tổ chức.
Nghị định số 63/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/9/2019.
4. Ngày 16/7/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2019/NĐ-CP về việc sửa đổi Điều 7 Nghị định số 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Theo đó, những loài động vật sau được bổ sung vào Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ: Rùa đầu to (thuộc họ Rùa đầu to); thằn lằn cá sấu (thuộc họ Thằn lằn cá sấu); tắc kè đuôi vàng (thuộc họ Tắc kè); rẽ mỏ thìa, choắt mỏ vàng (thuộc họ Rẽ); trĩ sao, công (thuộc họ Trĩ); cầy giống đốm lớn, cầy vằn bắc, cầy gấm (thuộc họ Cầy)… Riêng trâu rừng nằm trong họ Trâu bò được loại khỏi Danh mục loài nguy cấp theo quy định mới tại Nghị định này. Đặc biệt, Nghị định đã bổ sung 08 loài thuộc họ Lan quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ đó là: Lan hài chai (lan vân hài), lan hài xanh, lan hài chân tím (lan hài trần liên), lan hài trân châu, lan hài hằng, lan hài đỏ (lan hài hồng), lan hài tam đảo, lan hài thăng heng (lan hài hêlen) và bổ sung cụ thể 03 loài thực vật khác vào Danh mục các loài nguy cấp, đó là: Hoàng liên gai lá mốc (Hoàng liên gai, hoàng liên ba gai, Tiểu nghiệt bá), hoàng liên gai lá nhỏ, hoàng liên gai lá dài thay vì chỉ quy định họ Hoàng liên gai chung như trước đây.
Nghị định số 64/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 05/9/2019.
5. Ngày 18/7/2019 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 65/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 104/2017/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai; khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều
Theo đó, Nghị định số 65/2019/NĐ-CP bổ sung quy định về phạt vi phạm trong việc thực hiện quy trình vận hành hồ chứa thủy lợi như sau: phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng nếu thực hiện không đúng quy định về quy trình vận hành hồ chứa thủy lợi nhỏ đã được phê duyệt mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 70 triệu đồng nếu thực hiện không đúng quy định về quy trình vận hành hồ chứa thủy lợi vừa đã được phê duyệt mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; phạt tiền từ 70 triệu đồng đến 90 triệu đồng nếu thực hiện không đúng quy định về quy trình vận hành hồ chứa thủy lợi lớn đã được phê duyệt mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; phạt tiền từ 90 triệu đồng đến 100 triệu đồng nếu thực hiện không đúng quy định về quy trình vận hành hồ chứa thủy lợi quan trọng đặc biệt đã được phê duyệt mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nghị định số 65/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 09/9/2019.
6. Ngày 28/6/2019, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 40/2019/TT-BTC về việc sửa đổi, bổ sung một số Điều của Thông tư số 152/2016/TT-BTC ngày 17/10/2016 của Bộ Tài chính quy định quản lý và sử dụng kinh phí hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng
Theo đó, giáo viên cơ hữu đang làm việc tại các cơ sở đào tạo trình độ sơ cấp hoặc đào tạo dưới 03 tháng của Nhà nước được áp dụng mức tiền lương, các khoản phụ cấp theo lương của giảng viên, giáo viên hiện đang hưởng. Đối với người dạy nghề không thuộc trường hợp trên thì mức chi do Thủ trưởng cơ quan được giao chủ trì xây dựng đơn giá đặt hàng đề xuất, tối đa không quá 2 triệu đồng/người/buổi theo quy định tại điểm a khoản 2, Điều 5 Thông tư số 36/2018/TT-BTC. Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định nếu người học là người khuyết tật thì cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện chính sách ký hợp đồng đào tạo với các cơ sở đào tạo hoặc cơ sở sản xuất, kinh doanh có Đề án tổ chức dạy nghề gắn với việc làm cho người khuyết tật và thanh toán, quyết toán theo số người khuyết tật thực tế học và mức chi phí đào tạo do cấp có thẩm quyền quy định.
Thông tư số 40/2019/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 01/9/2019.
7. Ngày 23/7/2019, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 46/2019/TT-BTC về việc hướng dẫn xác định nhu cầu, nguồn và phương thức chi thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở theo Nghị định số 38/2019/NĐ-CP và điều chỉnh trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc theo Nghị định số 44/2019/NĐ-CP
Theo đó, nguồn kinh phí điều chỉnh mức lương cơ sở theo Nghị định số 38/2019/NĐ-CP đối với các cơ quan hành chính Nhà nước, Đảng, đoàn thể bao gồm: nguồn thực hiện cải cách tiền lương đến hết năm 2018 chưa sử dụng hết chuyển sang năm 2019 (nếu có; sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ năm 2019 (phần còn lại sau khi đã sử dụng để thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở từ 1,21 triệu đồng/tháng lên 1,39 triệu đồng/tháng), số thu được để lại theo chế độ này phải bảo đảm nguyên tắc không được trừ chi phí trực tiếp phục vụ cho công tác thu trong trường hợp đã được ngân sách Nhà nước bảo đảm chi phí cho hoạt động thu; sử dụng nguồn tiết kiệm 10% chi thường xuyên (không kể các khoản chi tiền lương, phụ cấp theo lương, các khoản có tính chất lương và các khoản chi cho con người theo chế độ) dự toán năm 2019 tăng thêm so với dự toán năm 2018 được cấp có thẩm quyền giao.
Thông tư số 46/2019/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 06/9/2019.
8. Ngày 24/7/2019, Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư số 106/2019/TT-BQP về việc hướng dẫn điều chỉnh trợ cấp hàng tháng đối với quân nhân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc
Theo Thông tư số 106/2019/TT-BQP sẽ tăng 7,19% trên mức trợ cấp hàng tháng của tháng 6 năm 2019 đối với các đối tượng: quân nhân đã phục viên, xuất ngũ đang hưởng chế độ trợ cấp tháng theo quy định tại Quyết định 142/2008/QĐ-TTg và Quyết định 38/2010/QĐ-TTg; quân nhân hoặc người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo quy định tại Quyết định 62/2011/QĐ-TTg. Mức điều chỉnh tăng thêm được tính theo công thức: Mức trợ cấp hàng tháng được hưởng từ ngày 01/7/2019 bằng Mức trợ cấp hàng tháng được hưởng tại thời điểm tháng 6/2019 nhân với 1,0719. Cụ thể, mức trợ cấp sau khi được điều chỉnh tăng thêm đối với các đối tượng trên như sau: từ đủ 15 năm đến dưới 16 năm: 1,891 triệu đồng/tháng; từ đủ 16 năm đến dưới 17 năm: 1,977 triệu đồng/tháng; từ đủ 17 năm đến dưới 18 năm: 2,064 triệu đồng/tháng; từ đủ 18 năm đến dưới 19 năm: 2,150 triệu đồng/tháng; từ đủ 19 năm đến dưới 20 năm: 2,235 triệu đồng/tháng.
Thông tư số 106/2019/TT-BQP có hiệu lực từ ngày 08/9/2019.
9. Ngày 02/8/2019, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 10/2019/TT-BNV hướng dẫn việc xếp lương đối với các ngạch công chức chuyên ngành văn thư
Theo đó, các ngạch công chức chuyên ngành văn thư quy định tại Thông tư số 14/2014/TT-BNV được áp dụng Bảng 2 (Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, cụ thể: ngạch văn thư chính (mã số 02.006) áp dụng bảng lương công chức loại A2 (nhóm 1); ngạch văn thư (mã số 02.007) áp dụng bảng lương công chức loại A1; ngạch văn thư trung cấp (mã số 02.008) áp dụng bảng lương công chức loại B. Trong trường hợp công chức được tuyển dụng vào vị trí việc làm có yêu cầu ngạch công chức tương ứng là ngạch văn thư trung cấp nhưng có trình độ cao đẳng trở lên thì bổ nhiệm vào ngạch văn thư trung cấp và áp dụng bảng lương của công chức loại B.
Thông tư này cũng quy định việc chuyển xếp lương đối với công chức đang làm công tác văn thư từ các ngạch công chức chuyên ngành văn thư hiện giữ hoặc các ngạch công chức khác sang ngạch công chức chuyên ngành văn thư.
Thông tư số 10/2019/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 20/9/2019.
10. Ngày 12/8/2019, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 12/2019/TT-BLĐTBXH hướng dẫn việc chuyển xếp lương chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành giáo dục nghề nghiệp
Theo đó, viên chức được bổ nhiệm làm giảng viên giáo dục nghề nghiệp cao cấp (hạng I), mã số: V.09.02.01, được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A3 nhóm 1 (A3.1) từ hệ số lương 6,20 đến hệ số lương 8,00; Giảng viên giáo dục nghề nghiệp chính (hạng II), mã số: V.09.02.02, được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A2 nhóm 1 (A2.1) từ hệ số lương 4,40 đến hệ số lương 6,78; Giảng viên giáo dục nghề nghiệp lý thuyết (hạng III), mã số: V.09.02.03, được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A1 từ hệ số lương 2,34 đến hệ số lương 4,98; Giảng viên giáo dục nghề nghiệp thực hành (hạng III), mã số: V.09.02.04, được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A0 từ hệ số lương 2,10 đến hệ số lương 4,89; Viên chức được bổ nhiệm làm giáo viên giáo dục nghề nghiệp hệ số lương từ 1,86 đến hệ số lương 7,55 tùy từng hạng cụ thể.
Thông tư số 12/2019/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ ngày 26/9/2019.
11. Ngày 17/7/2019, Bộ Y tế ban hành đã Thông tư số 17/2019/TT-BYT về việc hướng dẫn giám sát và đáp ứng với bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm
Theo Thông tư số 17/2019/TT-BYT phải tổ chức cách ly y tế đối với 09 loại bệnh truyền nhiễm nhóm B sau: bạch hầu, ho gà, sởi, rubella, than, viêm màng não do mô cầu, chân tay miệng, thủy đậu, quai bị. Việc giám sát bệnh, dịch truyền nhiễm sẽ được thực hiện đối với các đối tượng: người mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm; tác nhân gây bệnh truyền nhiễm; ổ chứa, trung gian truyền bệnh và các yếu tố nguy cơ. Giám sát bệnh, dịch truyền nhiễm được thực hiện dưới 02 loại hình là giám sát dựa vào chỉ số và giám sát dựa vào sự kiện. Giám sát dựa vào chỉ số được thực hiện thông qua việc thu thập thông tin về các bệnh truyền nhiễm, bao gồm giám sát thường xuyên và giám sát trọng điểm. Giám sát dựa vào sự kiện là việc thu thập các thông tin, sàng lọc, xác minh các dấu hiệu cảnh báo từ nguồn tin của cộng động, mạng xã hội…
Thông tư số 17/2019/TT-BYT có hiệu lực từ ngày 01/9/2019.
12. Ngày 09/8/2019, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 10/2019/TT-BGDĐT về việc quy định tiêu chuẩn chức danh trưởng phòng, phó trưởng phòng giáo dục và đào tạo thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương
Theo đó, công chức, viên chức được xem xét bổ nhiệm giữ chức danh trưởng phòng, phó trưởng phòng khi đảm bảo các tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể sau đây: Thứ nhất, về tiêu chuẩn chung, bên cạnh các tiêu chí tốt nghiệp đại học sư phạm hoặc tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm thì công chức phải có chứng chỉ chương trình bồi dưỡng trưởng phòng, phó trưởng phòng giáo dục và đào tạo theo quy định của Bộ GD-ĐT, đồng thời, có thời gian công tác trong ngành giáo dục ít nhất 05 năm. Thứ hai, ngoài các tiêu chuẩn trên, công chức phải đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể sau: đối với chức danh trưởng phòng thì công chức phải có thời gian đảm nhiệm chức vụ phó trưởng phòng giáo dục và đào tạo hoặc tương đương, hiệu trưởng cơ sở giáo dục hoặc tương đương; đối với chức danh phó trưởng phòng thì phải có thời gian đảm nhiệm chức vụ hiệu trưởng hoặc phó hiệu trưởng cơ sở giáo dục hoặc tương đương, công chức ngạch chuyên viên…Thông tư này không áp dụng đối với nữ từ đủ 50 tuổi trở lên và nam từ đủ 55 tuổi trở lên đang giữ chức danh trưởng phòng, phó trưởng phòng.
Thông tư số 10/2019/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 30/9/2019.
13. Ngày 05/8/2019, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 47/2019/TT-BTC về việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp
Theo đó, lệ phí đăng ký doanh nghiệp (bao gồm: cấp mới, cấp lại, thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp) là 50.000 đồng/lần. Lệ phí cung cấp thông tin doanh nghiệp cụ thể như sau: cung cấp thông tin Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh 20.000 đồng/bản; cung cấp thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, cung cấp báo cáo tài chính các loại doanh nghiệp 40.000 đồng/bản; cung cấp báo cáo tổng hợp về doanh nghiệp 150.000 đồng/báo cáo; công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp 100.000 đồng/lần...
Thông tư số 47/2019/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 20/9/2019.
14. Ngày 15/8/2019, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng Điều 214 về tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, Điều 215 về tội gian lận bảo hiểm y tế và Điều 216 về tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động của Bộ luật Hình sự.
Theo đó, đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp thực hiện trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 thì không xử lý về hình sự theo quy định tại Điều 216 Bộ luật Hình sự mà tùy từng trường hợp xử lý như sau: trường hợp chưa xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì cơ quan có thẩm quyền xem xét xử phạt vi phạm hành chính; trường hợp đã xử phạt vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn việc thi hành thì thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính…Không coi việc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 216 Bộ luật Hình sự.
Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP có hiệu lực từ ngày 01/9/2019.
 Hồng Luyến

 

Các tin khác