Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 7

  • Hôm nay 594

  • Tổng 9.210.986

Thừa phát lại nên được tổ chức và hoạt động trong phạm vi nào?

Post date: 07/06/2017

Font size : A- A A+
 
Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện chủ trương cải cách tư pháp, xã hội hóa một số nội dung công tác tư pháp, Đảng ta đã ban hành nhiều văn kiện quan trọng như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong giai đoạn tới; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp và nhiệm vụ hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp đã được đề ra tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, chế định Thừa phát lại đã được thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh theo Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009;  sau đó tiếp tục thí điểm tại 12 tỉnh, thành phố theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội về thi hành Luật thi hành án dân sự và Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại, Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và các Thông tư hướng dẫn hiện hành. Cuối năm 2015, Chính phủ đã tiến hành tổng kết và báo cáo Quốc hội về kết quả triển khai thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại. Trên cơ sở kết quả tổng kết và kiến nghị của Chính phủ, ngày 26/11/2015, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 107/2015/QH13, chấm dứt việc thí điểm và cho thực hiện chính thức chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước, kể từ ngày 01/01/2016. Để triển khai Nghị quyết, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 14/01/2016 và Bộ Tư pháp  đã giúp Chính phủ dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động thừa phát lại.  

Dự thảo Nghị định gồm 6 chương, 79 điều, bao gồm những nội dung: Những quy định chung; Thừa phát lại; Văn phòng Thừa phát lại; Thẩm quyền, phạm vi, thủ tục thực hiện công việc của Thừa phát lại; Quản lý nhà nước, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết tranh chấp và kiểm sát về Thừa phát lại và hiệu lực thi hành, điều khoản chuyển tiếp. Nghị định được xây dựng dựa trên quan điểm chỉ đạo, đó là: Xác định Thừa phát lại là công lại, được nhà nước trao quyền để thực hiện các công việc của nhà nước, hoạt động của Thừa phát lại có tác động đối với kinh tế - xã hội, đối với hoạt động tư pháp và nhu cầu của người dân. Do vậy, việc xây dựng đội ngũ Thừa phát lại cần phải hướng tới chuyên nghiệp; Thừa phát lại phải có trình độ, năng lực, kinh nghiệm, kỹ năng và phẩm chất đạo đức tốt; việc quản lý nhà nước đối với các hoạt động này phải bảo đảm hiệu quả, vừa tạo điều kiện, hỗ trợ Thừa phát lại nhưng đồng thời phải kịp thời ngăn chặn, chấn chỉnh những vi phạm, sai sót. Bên cạnh đó, chế định Thừa phát lại cần được xây dựng trong mối tương quan với các nghề bổ trợ tư pháp khác như: luật sư, công chứng, đấu giá tài sản, quản tài viên.  Kế thừa các quy định còn phù hợp của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, Nghị định số 135/2013/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành theo hướng  phát huy những công việc mà thừa phát lại đã làm được và làm tốt trong thời gian qua, khắc phục những yếu kém, bất cập trong thời kỳ thí điểm; xác định rõ hơn nữa nhiệm vụ của thừa phát lại so với Chấp hành viên trong hoạt động thi hành án dân sự. Đối với những vấn đề phức tạp, còn có nhiều quan điểm khác nhau thì sẽ tiếp tục nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền.  Bảo đảm nghề Thừa phát lại phát triển theo quy hoạch, có lộ trình  bền vững, ổn định, không chạy theo số lượng. Nơi nào có đủ điều kiện, thực sự có nhu cầu thì mới thành lập Văn phòng Thừa phát lại và phải đảm bảo các Văn phòng sau khi được thành lập sẽ tồn tại, phát triển được.
Theo dự thảo Nghị định, Thừa phát lại là người có đủ tiêu chuẩn được nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để thực hiện các công việc theo quy định của nghị định và pháp luật có liên quan. Tiêu chuẩn  để được bổ nhiệm Thừa phát lạ, đó là : Công dân Việt Nam, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe bảo đảm hành nghề và không quá 65 tuổi, có bằng cử nhân luật hoặc trên đại học chuyên ngành Luật; đã công tác thực tế trong ngành pháp luật từ 05 năm trở lên tại các cơ quan tổ chức sau khi đã có bằng tôt nghiệp đại học hoặc trên đại học chuyên ngành luật; đã tốt nghiệp khóa đào tạo hoặc hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề Thừa phát lại; đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Thừa phát lại. Thừa phát lại không được kiêm nhiệm luật sư, công chứng viên, đấu giá viên, quản tài viên và những công việc thường xuyên khác. Văn phòng Thừa phát lại là tổ chức hành nghề của Thừa phát lại để thực hiện các công việc được giao theo quy định của nghị định và pháp luật có liên quan. Văn phòng Thừa phát lại do 01 Thừa phát lại thành lập được tổ chức theo mô hình doanh nghiệp tư nhân; Văn phòng Thừa phát lại do từ 02 Thừa phát lại trở lên thành lập được tổ chức theo mô hình công ty hợp danh. Văn phòng Thừa phát lại được thành lập dựa trên các tiêu chí về điều kiện kinh tế xã hội, số lượng vụ việc thụ lý của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự, mật độ dân cư và nhu cầu của người dân. Theo đó, mỗi đơn vị hành chính quận, thành phố, thị xã thành lập không quá 02 Văn phòng và mỗi đơn vị hành chính huyện thành lập không quá 01 Văn phòng Thừa phát lai.
Theo dự thảo Nghị định, thì phạm vi hoạt động của Thừa phát lại được giới hạn trong 4 công việc, bao gồm:  thực hiện việc tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu; lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức; xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự, trừ việc cưỡng chế thi hành án dân sự cần huy động lực lượng. Theo đó, ngoài việc tống đạt văn bản của cơ quan Tòa án, cơ quan thi hành án,dự thảo Nghị định dự kiến mở rộng phạm vi tống đạt của Thừa phát lại theo hướng Thừa phát lại được tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu có liên quan đến tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài trên phạm vi toàn quốc và tống đạt văn bản theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm đốc thúc thực hiện nghĩa vụ pháp lý trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại. Đối với việc tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu có liên quan đến tương trợ tư pháp, Bộ Tư pháp sẽ lựa chọn một hoặc một số Văn phòng Thừa phát lại để thực hiện tống đạt.
Có nhiều nội dung của Dự thảo Nghị định  chưa phù hợp, còn có ý kiến khác nhau, cần phải tiếp tục nghiên cứu, làm rõ và sửa đổi, bổ sung, như:
- Quy định việc tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, cơ quan thi hành  cho cá nhân phải được giao trực tiếp và yêu cầu cá nhân đó ký nhận hoặc điểm chỉ. Trường hợp người được tống đạt vắng mặt thì giao cho một trong số những người thân thích có năng lực hành vi dân sự, như: vợ, chồng, con đẻ, con nuôi, ông bà, cha, mẹ, bác, cô, cậu, dì, anh chị em của người được tống đạt. Quy định này chưa phù hợp vì mục đích cuối cùng của việc tống đạt là các giấy tờ, hồ sơ, tài liệu đến tận tay người được tống đạt để họ thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu; việc quy định giao giấy tờ, hồ sơ, tài liệu tống đạt cho những người thân thích của người được tống đạt như dự thảo Nghị định thực tế chỉ đạt được về việc giấy tờ đã được tống đạt, còn việc người được tống đạt có nhận được hay không để thực hiện nghĩa vụ thì không biết được. Nên chăng cần sửa lại theo hướng: Nếu việc tống đạt đến lần thứ hai mà đương sự vẫn vắng mặt và không rõ thời điểm trở về hoặc có mặt mà từ chối nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu tống đạt, thì Thừa phát lại phải lập biên bản có người làm chứng về việc không thực hiện được tống đạt và thực hiện niêm yết giấy tờ, hồ sơ, tài liệu đó (bỏ quy định giấy tờ, hồ sơ, tài liệu tống đạt được giao cho những người thân thích của người được tống đạt).
- Mỗi Toà án trên địa bàn được phép ký hợp đồng dịch vụ tống đạt với 01 hoặc nhiều Văn phòng Thừa phát lại, trong khi đó lại khống chế Mỗi cơ quan Thi hành án dân sự trên địa bàn chỉ được ký hợp đồng dịch vụ tống đạt với 01 Văn phòng Thừa phát lại.
 - Về chi phí tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu, dự thảo nghị định quy định trong trường hợp chưa thu được tiền của đương sự tại thời điểm thanh toán, thì cơ quan thi hành án dân sự tạm ứng trước kinh phí để thanh toán cho Văn phòng Thừa phát lại từ nguồn dự toán kinh phí được cơ quan có thẩm quyề giao. Cơ quan Thi hành án dân sự có trách nhiệm đôn đốc thu hồi khoản tiền tống đạt mà đương sự phải nộp để hoàn trả cho ngân sách nhà nước. Quy định này sẽ làm phát sinh thêm nghĩa vụ của người phải thi hành án.Trong trường hợp người phải thi hành án không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ, lại phải chi trả thêm khoản chi phí tống đạt, thì khả năng thu hồi của Cơ quan thi hành án là khó thực hiện được. Như vậy, Cơ quan thi hành án phải bỏ khoản kinh phí do ngân sách nhà nước cấp để chi trả cho Văn phòng Thừa phát lại. Khoản này nếu sau này không thu hồi được thì sẽ giải quyết như thế nào.
- Về quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động Thừa phát lại, dự thảo Nghị định mới chỉ dừng lại quy định trách nhiệm và thẩm quyền thực hiện, chưa quy định nguồn lực cho các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về Thừa phát lại ở địa phương, sẽ dẫn đến bất cập trong tổ chức thực hiện nếu Nghị định được ban hành và có hiệu lực thi hành. Bỡi vì thời gian qua tình trạng các quy định của Luật, Nghị định của Chính phủ, Đề án của Thủ tướng Chính phủ giao bổ sung nhiệm vụ cho các ngành chức năng nhưng không bổ sung hoặc bổ sung không đủ, không kịp thời nguồn lực (biên chế, kinh phí...) cho thực hiện nhiệm vụ, làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật và hiệu lực quản lý nhà nước
- Quy định việc Thừa phát lại có nhiệm vụ tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự; có quyền  được áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án, trừ việc cưỡng chế thi hành án dân sự cần huy động lực lượng. Đây là quy định còn có nhiều ý kiến băn khoăn, lo ngại nhất. Bỡi vì nếu quản lý không chặt chẽ sẽ tiềm ẩn nhiều vấn đề tiêu cực, phức tạp, khó lường. Vì vậy đề nghị nên cân nhắc quy định về giới hạn hoạt động, trước mắt chỉ quy định thừa phát lại thực hiện đối với 03 nhóm việc: Tống đạt; lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án được quy định tại Mục 1, Mục 2, Mục 3 của Chương IV. Còn các việc ở Mục 4 Chương IV (thi hành bản án, quyết định theo yêu cầu của đương sự) đặc biệt là quy định về Thừa phát lại có quyền được áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án, đề nghị nên cân nhắc kỹ, thấu đáo không nên nóng vội. Đây là lĩnh vực mới, phức tạp; thời gian làm điểm không dài, phạm vi làm điểm chỉ ở các địa phương có vụ việc và lượng án lớn, kinh tế xã hội, giao lưu dân sự kinh tế phát triển, có thói quen sử dụng các dịch vụ pháp lý, chưa mang tính đại diện; nhiều nội dung của dự thảo Nghị định cần được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ. Vì vậy, đề nghị cần tiếp tục tổ chức lấy ý kiến của các ngành, địa phương, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của Nghị định; tiếp tục tổ chức khảo sát, hội nghị, hội thảo để Nghị định khi ban hành đảm bảo chất lượng, chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ và tính khả thi cao.

                                                                                  Luật gia Minh Hương

 

More