Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 1

  • Hôm nay 4663

  • Tổng 9.203.465

Những vướng mắc trong xác định văn bản quy phạm pháp luật

8:13, Thứ Ba, 24-9-2019

Xem với cỡ chữ : A- A A+

Ngày 22/9/2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi tắt là Luật năm 2015), có hiệu lực từ ngày 01/7/2016. Để quy định chi tiết một số điều cũng như các biện pháp thi hành Luật 2015, ngày 14/5/2016 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (gọi tắt là Nghị định số 34).

Sau hơn 3 năm thực hiện Luật năm 2015 và Nghị định số 34, công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cấp, các ngành đã đi vào nề nếp, có những chuyển biến tích cực; trình tự, thủ tục ban hành đảm bảo theo quy định; chất lượng văn bản ban hành được nâng lên, hạn chế việc ban hành văn bản sai về thể thức và nội dung, góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã gặp một số vướng mắc trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Về thẩm quyền ban hành ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã đã được Điều 30 Luật năm 2015 quy định “Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao”. Như vậy, theo quy định của Luật năm 2015, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhưng phải được luật giao.
Hiện nay, hiểu thế nào là luật giao thì lại có những ý kiến trái chiều chưa thống nhất, nên khi các phòng tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định quy định về tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn của các phòng trực thuộc Ủy ban nhân dân cáp huyện thì có nơi ban hành bằng hình thức văn bản quy phạm pháp luật, có nơi ban hành bằng hình thức văn bản cá biệt, có nơi chưa ban hành văn bản mà chờ văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà nước cấp trên.
Vấn đề này hiện nay có hai loại ý kiến khác nhau:
Loại ý kiến thứ nhất cho rằng khi Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định quy định về tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn của các phòng trực thuộc Ủy ban nhân dân huyện phải ban hành bằng văn bản hành chính cá biệt, không thể ban hành bằng hình thức văn bản quy phạm pháp luật.
Theo loại ý kiến này, để xác định một văn bản của Ủy ban nhân dân cấp huyện có phải là văn bản quy phạm pháp luật không thì cần có hai điều kiện cơ bản đó là “văn bản đó phải chứa quy phạm pháp luật” và “văn bản đó phải quy định những vấn đề được luật giao”.
Về điều kiện thứ nhất là “văn bản có chứa quy phạm pháp luật” là đảm bảo. Bởi vì, quyết định của UBND cấp huyện quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện được áp dụng nhiều lần đối với mọi đối tượng có liên quan có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật.
Về điều kiện thứ hai là “Văn bản đó phải quy định những vấn đề được luật giao”, thì chưa đảm bảo. Vì, hiện nay không có văn bản luật nào giao cụ thể cho Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện.
Do không đảm bảo điều kiện thứ hai, do vậy Ủy ban nhân dân huyện không thể ban hành hình thức văn bản quy phạm pháp luật để quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện mà phải ban hành bằng hình thức văn bản cá biệt.
Loại ý kiến thứ hai cho rằng việc Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn của các phòng trực thuộc Ủy ban nhân dân huyện đây là văn bản quy phạm pháp luật.
Loại ý kiến này cho rằng cả hai điều kiện là “văn bản đó phải chứa quy phạm pháp luật” và “văn bản đó phải quy định những vấn đề được luật giao” đều được đảm bảo.
Về điều kiện thứ nhất thì cũng thống nhất với loại ý kiến thứ nhất là “văn bản có chứa quy phạm pháp luật”. Đối với điều kiện thứ hai “văn bản đó phải quy định những vấn đề được luật giao” cũng đảm bảo. Loại ý kiến này cho rằng: Về vấn đề này, Khoản 2 Điều 28 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện là “Quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện”. Có nghĩa việc quy định này đã được Luật Tổ chức chính quyền địa phương giao.
Loại ý kiến thứ hai cũng thống nhất với ý kiến của Bộ Tư pháp tại Công văn Số: 4218/BTP-VĐCXDPL ngày 28 tháng 11 năm 2016 về việc trả lời về một số quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn. Bộ Tư pháp cũng cho rằng: “Đối với quyết định quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, Bộ Tư pháp cho rằng đây là văn bản quy phạm pháp luật vì quyết định của UBND cấp huyện quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện được áp dụng nhiều lần đối với mọi đối tượng có liên quan (không chỉ riêng trong nội bộ phòng), có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật”.
Cả hai loại ý kiến trên hiện tại chưa thống nhất với nhau. Do vậy, đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội có cách giải thích chính thức làm cơ sở thống nhất cho việc ban hành văn bản của Ủy ban nhân cấp huyện. Vì, hiện nay theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 thì chỉ có Ủy ban thường vụ Quốc hội mới là cơ quan có thẩm quyền giải thích chính thức Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Còn ý kiến của các cơ quan khác chỉ có tính chất tham khảo.

Luật gia: Trần Tiến Hải
Trường Chính trị Quảng Bình

Các tin khác