Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 9

  • Hôm nay 1113

  • Tổng 9.332.638

NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

9:33, Thứ Năm, 8-10-2026

Xem với cỡ chữ : A- A A+

Ngày 23/8/2026, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) - có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027. 

Luật sửa đổi, bổ sung 36 điều và bãi bỏ 02 điều trên tổng số 78 điều của Luật TNBTCNN năm 2017, bố cục gồm 03 điều: Điều 1 sửa đổi, bổ sung Luật TNBTCNN; Điều 2 sửa đổi, bổ sung một số điều của luật có liên quan; Điều 3 quy định điều khoản thi hành. Luật có nhiều quy định mới theo hướng bảo đảm tốt hơn quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại, đơn giản hóa trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường và nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người thi hành công vụ trong quá trình giải quyết bồi thường.
1. Về nguyên tắc áp dụng pháp luật
Điểm mới mang tính nền tảng nhất của lần sửa đổi này thể hiện ở nội dung sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 4 của Luật TNBTCNN: “Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này, trừ trường hợp Quốc hội có quy định khác về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các lĩnh vực quy định tại Điều 1 của Luật này”. 
Bên cạnh đó, Luật sửa đổi khoản 2, khoản 4 Điều 4 và điểm c khoản 2 Điều 7 để bảo đảm sự công bằng, thống nhất trong cơ chế lựa chọn cơ quan giải quyết bồi thường của người yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, bảo đảm tối đa quyền của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại.
2. Về phạm vi TNBTCNN trong hoạt động quản lý hành chính
Luật bổ sung quyền được Nhà nước bồi thường cho người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân của họ khi cơ quan có thẩm quyền không áp dụng, áp dụng không kịp thời hoặc không đúng biện pháp bảo vệ gây thiệt hại (tại khoản 6 Điều 17 của Luật TNBTCNN).
Luật bổ sung một số hành vi làm phát sinh TNBTCNN trong hoạt động quản lý hành chính để khắc phục vướng mắc trong thực tiễn, như hành vi “hủy bỏ” giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép (khoản 8 Điều 17), hành vi “không cấp” Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trái pháp luật (khoản 11 Điều 17). 
3. Về cơ quan giải quyết bồi thường
Điều 33 được thiết kế lại thành nhóm cơ quan giải quyết bồi thường ở trung ương và ở tỉnh, thành phố; trong đó xác định Cục và tương đương thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương, có tư cách pháp nhân và tài khoản riêng, là cơ quan giải quyết bồi thường đối với người thi hành công vụ thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp.
4. Về trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường
Về thời gian giải quyết bồi thường: thời hạn kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ và thời hạn thụ lý, cử người giải quyết đều còn 02 ngày làm việc (Điều 42, Điều 43). Đồng thời, để bảo đảm chất lượng giải quyết đối với vụ việc phức tạp, thời gian xác minh thiệt hại và thời gian thương lượng được phép kéo dài theo thỏa thuận giữa các bên và không tính vào thời hạn giải quyết (Điều 45, Điều 46). 
Về mức tạm ứng kinh phí: Luật quy định Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại quyết định mức tạm ứng cho người yêu cầu bồi thường nhưng không dưới 75% giá trị các thiệt hại (Điều 44); kéo dài thời điểm có hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và thời hạn khởi kiện ra Tòa án từ 15 ngày lên 60 ngày, đồng thời cho phép các bên thỏa thuận để quyết định có hiệu lực sớm hơn (Điều 47, Điều 52); bổ sung quyền rút yêu cầu trước khi quyết định có hiệu lực (Điều 51) và quyền đề nghị giám định thiệt hại (Điều 13, Điều 45). Các nội dung mang tính nghiệp vụ, kỹ thuật được giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm tính ổn định của Luật.
5. Về việc xem xét trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ
Điều 65 được sửa đổi, bổ sung, Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ được quyết định giảm mức hoàn trả tối đa 30% khi người đó có lỗi vô ý và thuộc trường hợp thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo đúng chủ trương đã được phê duyệt, không vụ lợi, đã chủ động khắc phục hậu quả, hoặc đã hoàn trả được ít nhất 50% số tiền phải hoàn trả (khoản 4). Đặc biệt, khoản 4a mới bổ sung cho phép miễn hoàn trả khi người thi hành công vụ có lỗi vô ý, chủ động khắc phục hậu quả và thuộc một trong các trường hợp: thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội; mắc bệnh hiểm nghèo; lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn; hoặc lập công lớn. Đây là những điểm mới tiến bộ, góp phần thúc đẩy tinh thần dám nghĩ, dám làm của đội ngũ cán bộ, công chức, đồng thời vẫn bảo đảm tính nghiêm minh và công bằng trong quá trình xem xét trách nhiệm khi vi phạm công vụ.
Luật cũng khắc phục vướng mắc thực tiễn khi bổ sung khoản 2a Điều 66: trường hợp Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả không xác định được đầy đủ các nội dung (người gây thiệt hại, mức độ lỗi, trách nhiệm và mức hoàn trả của từng người) thì kiến nghị Thủ trưởng cơ quan đã chi trả tiền bồi thường quyết định.
6. Về lập dự toán, quyết toán kinh phí bồi thường và chi trả tiền bồi thường
Điều 60 xác định rõ Nhà nước bảo đảm hai loại kinh phí: kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước; và kinh phí chi trả cho người bị thiệt hại kèm chi phí định giá tài sản, giám định thiệt hại. Nguồn kinh phí được bố trí theo cấp ngân sách tương ứng với cơ quan (ngân sách trung ương hoặc ngân sách địa phương) nhằm phù hợp với pháp luật về ngân sách nhà nước.
Điều 61 quy định hằng năm các cơ quan nhà nước lập dự toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường theo pháp luật về ngân sách nhà nước; kết thúc năm ngân sách, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có trách nhiệm quyết toán. 
Điều 62 rút ngắn thủ tục chi trả tiền bồi thường: trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi quyết định (hoặc bản án, quyết định của Tòa án) có hiệu lực, cơ quan phải thông báo; trong 02 ngày làm việc tiếp theo phải thực hiện chi trả. Luật đồng thời bãi bỏ Điều 63 về trình tự cấp phát kinh phí không còn phù hợp.
7. Về quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước
Luật xác định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong cả 03 lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án trên phạm vi cả nước; Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước tại địa phương với các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể.
8.  Về điều khoản chuyển tiếp
Theo đó, đối với yêu cầu bồi thường đã được thụ lý trước ngày Luật có hiệu lực (01/3/2027) mà chưa hoặc đang giải quyết thì về nguyên tắc tiếp tục áp dụng Luật TNBTCNN năm 2017 để giải quyết, song kể từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TNBTCNN có hiệu lực (01/3/2027), đối với những công việc, thủ tục thì cơ quan giải quyết bồi thường áp dụng quy định có lợi hơn cho người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả theo quy định của Luật này để giải quyết, trừ trường hợp người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả đề nghị không áp dụng quy định đó.

Các tin khác