Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 12

  • Hôm nay 3344

  • Tổng 9.320.277

CHÍNH SÁCH THÁNG 9 NĂM 2026

Post date: 15/09/2026

Font size : A- A A+

I. DÒNG CHẢY CHÍNH SÁCH

Một số chính sách có hiệu lực từ tháng 9 năm 2026
1. Chính sách cho người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Ngày 4/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 307/2026/NĐ-CP quy định về lựa chọn, công nhận, chính sách đối với người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và chính sách thăm hỏi, chúc mừng, tặng quà, động viên, gặp mặt, biểu dương, tôn vinh đối với một số tổ chức, cá nhân người dân tộc thiểu số. Theo đó, Nghị định này quy định chi tiết chính sách đối với người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số gồm: Chính sách hỗ trợ về thông tin; chính sách hỗ trợ vật chất, động viên tinh thần; chính sách khen thưởng; Chính sách tiếp đón.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/9/2026.
2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
Ngày 06/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 311/2026/NĐ-CP  sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
Nghị định này đã sửa đổi, bổ sung một số khoản tại Điều 6 của Nghị định số 189/2025/NĐ-CP về thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chuyên ngành, lĩnh vực và một số chức danh khác. Cụ thể như sau: Tại khoản 1, Điều 6: Sửa đổi, bổ sung theo hướng đổi tên một số chức danh như: Chi cục trưởng Chi cục An toàn thực phẩm, Chi cục trưởng Chi cục về lĩnh vực dân số, trẻ em thuộc Sở Y tế thành Chi cục trưởng Chi cục về lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm, Chi cục trưởng Chi cục về lĩnh vực dân số, trẻ em, phòng, chống tệ nạn xã hội thuộc Sở Y tế; Chi cục trưởng Chi cục Thống kê cấp tỉnh thuộc Cục Thống kê thành Trưởng Thống kê cấp tỉnh; Giám đốc Bảo hiểm xã hội khu vực thành Giám đốc Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh. Đồng thời, bổ sung thẩm quyền xử phạt của Chi cục trưởng Chi cục về lĩnh vực môi trường thuộc Cục Môi trường để phù hợp với thực tiễn, bảo đảm sự tương đồng về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường (lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, chăn nuôi, thú y, quản lý chất lượng nông lâm, thủy sản, thủy lợi, đê điều, phòng, chống thiên tai).
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 26/9/2026.
3. Bộ Tài chính bãi bỏ 25 văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế
Ngày 28/7/2026, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 110/2026/TT-BTC  bãi bỏ toàn bộ một số Thông tư và Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính trong lĩnh vực thuế. Thông tư có hiệu lực từ ngày 12/9/2026.
Theo đó, Thông tư bãi bỏ các văn bản hướng dẫn về ưu đãi thuế không còn phù hợp, bao gồm ưu đãi thuế doanh nghiệp phần mềm; chính sách hỗ trợ vùng nguyên liệu, chế biến nông - lâm - thủy sản; cùng các quy định cũ về thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế tài nguyên. Cùng với đó là loại bỏ các văn bản từng áp dụng cho chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế ngắn hạn thời kỳ trước, xóa nợ thuế hộ cá thể cũ, quy định vé máy bay điện tử và quy chế xử lý thủ tục theo cơ chế "một cửa" đã được thay thế. Thông tư cũng bãi bỏ các văn bản về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, cấp mã số doanh nghiệp và tem rượu để cập nhật theo các quy chuẩn quản lý hiện hành.
4. Trẻ dưới 6 tuổi được cấp thẻ Căn cước
Ngày 30/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 301/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/2024/NĐ-CP ngày 10/6/2024 của Chính phủ quy định việc thực hiện liên thông điện tử 2 nhóm thủ tục hành chính: Đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi; đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, giải quyết mai táng phí, tử tuất, có hiệu lực thi hành từ 01/9/2026. Theo đó, cha mẹ có thể đăng ký cấp thẻ căn cước cho trẻ dưới 6 tuổi nếu có nhu cầu ngay trong quá trình đăng ký khai sinh liên thông điện tử, không phải thực hiện thêm một thủ tục riêng như trước đây.
Từ 17/9/2026, bổ sung 3 nhóm đối tượng áp dụng quy định về tố cáo trong Quân đội
Ngày 03/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 305/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 28/2019/NĐ-CP ngày 20/3/2019 của Chính phủ quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Quân đội nhân dân.
Theo đó, Nghị định số 305/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 1 (về phạm vi điều chỉnh), Điều 2 (về đối tượng áp dụng) của Nghị định số 28/2019/NĐ-CP theo hướng bổ sung thêm 3 nhóm đối tượng gồm: Người làm việc trong tổ chức cơ yếu trong Ban Cơ yếu Chính phủ thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; công chức quốc phòng và lao động hợp đồng thuộc Bộ Quốc phòng.
Nghị định số 305/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 17/9/2026.
                                                                                                                                                      Phòng PBGDPL&TDTHPL
II. TIÊU ĐIỂM CHÍNH SÁCH
Hỏi đáp pháp luật tìm hiểu Nghị định số 66/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 quy định chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo và cơ sở giáo dục có trẻ em nhà trẻ, học sinh hưởng chính sách
1. Chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo áp dụng cụ thể cho đối tượng nào theo quy định của pháp luật hiện hành?
Ngày 12/3/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 66/2025/NĐ-CP quy định chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo và cơ sở giáo dục có trẻ em nhà trẻ, học sinh hưởng chính sách (sau đây gọi chung là Nghị định số 66/2025/NĐ-CP). Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2025 và thay thế Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn (sau đây gọi chung là Nghị định số 116/2016/NĐ-CP) và Thông tư liên tịch số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT ngày 29/5/2009 của Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo về hướng dẫn một số chế độ tài chính đối với học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú và các trường dự bị đại học dân tộc (sau đây gọi chung là Thông tư liên tịch số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT). 
Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 66/2025/NĐ-CP quy định đối tượng trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên được hưởng chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo bao gồm:
- Trẻ em nhà trẻ bán trú học tại cơ sở giáo dục mầm non (Trẻ em nhà trẻ bán trú là trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 03 tuổi học và ăn, ngủ trưa tại cơ sở giáo dục mầm non đáp ứng điều kiện được hưởng chính sách trẻ em nhà trẻ bán trú theo quy định);
- Học sinh bán trú học tại cơ sở giáo dục phổ thông (Học sinh bán trú là học sinh đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông đáp ứng điều kiện được hưởng chính sách học sinh bán trú theo quy định, ở lại trường hoặc khu vực gần trường để học tập trong tuần do không thể tự đi đến trường và trở về nhà trong ngày);
- Học viên bán trú học chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông (Học viên bán trú là học viên đang học chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông đáp ứng điều kiện được hưởng chính sách học viên bán trú theo quy định, ở lại gần nơi học tập trong tuần do không thể về nhà trong ngày);
- Học sinh dân tộc nội trú học tại cơ sở giáo dục phổ thông được cấp có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh dân tộc nội trú, Trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc, Trường Hữu nghị 80, Trường Hữu nghị T78;
- Học sinh dự bị đại học học tại trường dự bị đại học, Trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc.
2. Đối tượng nào được hưởng chính sách của cơ sở giáo dục có trẻ em nhà trẻ, học sinh hưởng chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo?
Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 66/2025/NĐ-CP quy định đối tượng cơ sở giáo dục có trẻ em nhà trẻ, học sinh được hưởng chính sách bao gồm:
- Cơ sở giáo dục mầm non công lập có tổ chức ăn, ngủ trưa cho trẻ em nhà trẻ bán trú;
- Trường phổ thông dân tộc bán trú, cơ sở giáo dục phổ thông có tổ chức ăn, ở tập trung cho học sinh bán trú;
- Trường phổ thông dân tộc nội trú, cơ sở giáo dục phổ thông được cấp có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh dân tộc nội trú, trường dự bị đại học, Trường Hữu nghị 80, Trường Hữu nghị T78, Trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc được hưởng chính sách tại Nghị định này đối với đối tượng học sinh dân tộc nội trú, dự bị đại học.
So với Nghị định số 116/2016/NĐ-CP, Nghị định số 66/2025/NĐ-CP đã bổ sung thêm cơ sở giáo dục mầm non công lập có tổ chức ăn, ngủ trưa cho trẻ em nhà trẻ bán trú là đối tượng được hưởng chính sách nhằm hỗ trợ kinh phí để các cơ sở giáo dục mầm non công lập phục vụ học tập, sinh hoạt và quản lý buổi trưa đối trẻ em nhà trẻ bán trú.
3. Trẻ em nhà trẻ bán trú phải đáp ứng điều kiện nào để được hưởng chính sách cho trẻ em nhà trẻ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo theo quy định của pháp luật?
Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 66/2025/NĐ-CP quy định trẻ em nhà trẻ bán trú phải đảm bảo một trong các điều kiện sau đây để được hưởng chính sách hỗ trợ trẻ em nhà trẻ bán trú ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo: 
- Trẻ em nhà trẻ thường trú tại xã, thôn đặc biệt khó khăn đang học tại cơ sở giáo dục mầm non công lập thuộc xã khu vực III, khu vực II, khu vực I, xã có thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo.
- Trẻ em nhà trẻ người dân tộc thiểu số thường trú tại xã khu vực II, khu vực I vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang học tại cơ sở giáo dục mầm non công lập thuộc xã khu vực III, khu vực II, khu vực I, xã có thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo thuộc một trong các trường hợp sau: 
+ Trẻ em thuộc hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều theo quy định của Chính phủ;
+ Trẻ em không có nguồn nuôi dưỡng được quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội;
+ Trẻ em là con liệt sĩ, con Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, con thương binh, con người hưởng chính sách như thương binh, con bệnh binh, con đối tượng chính sách khác theo quy định tại Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (nếu có);
+ Trẻ em khuyết tật học hòa nhập.
So với Nghị định số 116/2016/NĐ-CP, Nghị định số 66/2025/NĐ-CP đã bổ sung 02 đối tượng: (i) Trẻ em nhà trẻ thường trú tại xã, thôn đặc biệt khó khăn đang học tại cơ sở giáo dục mầm non thuộc xã khu vực III, khu vực II, khu vực I, xã có thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo; (ii) Trẻ em nhà trẻ người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo thường trú tại xã khu vực II, khu vực I vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang học tại cơ sở giáo dục mầm non thuộc xã khu vực III, khu vực II, khu vực 1, xã có thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo là đối tượng được hưởng chính sách.
4. Trẻ em nhà trẻ bán trú ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo được hưởng mức hỗ trợ như thế nào?
Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 66/2025/NĐ-CP quy định trẻ em nhà trẻ bán trú nếu đáp ứng điều kiện theo quy định sẽ được hỗ trợ tiền ăn trưa mỗi tháng là 360.000 đồng và được hưởng không quá 9 tháng/năm học.
                                                                                                                                                     Phòng PBGDPL&TDTHPL
III. ĐƯA PHÁP LUẬT VÀO CUỘC SỐNG
NÂNG CAO Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT KHI SỬ DỤNG INTERNET VÀ MẠNG XÃ HỘI
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, Internet và mạng xã hội ngày càng trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội. Đây là môi trường để mỗi người tiếp cận thông tin, kết nối, học tập, làm việc và kinh doanh. Tuy nhiên, cùng với những tiện ích đó, không gian mạng cũng đặt ra nhiều yêu cầu về trách nhiệm pháp lý đối với mỗi tổ chức, cá nhân. Việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật khi tham gia môi trường số vì vậy không chỉ là yêu cầu quản lý nhà nước mà còn là trách nhiệm của mỗi người dân.
Không gian mạng – môi trường tự do nhưng không nằm ngoài khuôn khổ pháp luật
Sự phát triển nhanh chóng của mạng xã hội khiến việc tạo lập, chia sẻ và lan truyền thông tin trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, mỗi cá nhân vừa là người tiếp nhận thông tin, vừa có thể trở thành người tạo ra và lan truyền thông tin đến hàng nghìn, thậm chí hàng triệu người. Điều này mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng kéo theo không ít hệ lụy. Một thông tin chưa được kiểm chứng, một bình luận thiếu cân nhắc hoặc một nội dung được chia sẻ lại tưởng như đơn giản có thể gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của tổ chức, cá nhân; xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác hoặc thậm chí dẫn đến trách nhiệm pháp lý.
Nghị định số 174/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 thể hiện rõ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin, thay thế các quy định trước đây, đáp ứng yêu cầu quản lý trong thời kỳ chuyển đổi số.
Nghị định quy định cụ thể về các hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả và thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức, cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực liên quan, đồng thời tham gia vào môi trường mạng.
Một trong những nội dung trọng tâm của Nghị định là tăng cường quản lý không gian mạng, đặc biệt đối với mạng xã hội, trang thông tin điện tử và các nền tảng số. Theo đó, người sử dụng và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, mạng xã hội phải thực hiện nghiêm trách nhiệm quản lý, kiểm soát, ngăn chặn và gỡ bỏ các nội dung vi phạm pháp luật.
Đáng chú ý, Nghị định tăng cường xử lý đối với hành vi đăng tải, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của tổ chức, cá nhân hoặc gây hoang mang trong xã hội. Đối với các hành vi nghiêm trọng, cá nhân có thể bị xử phạt đến 50 triệu đồng; tổ chức bị xử phạt theo quy định và có thể áp dụng mức phạt cao hơn đối với cùng hành vi vi phạm.
Bên cạnh đó, Nghị định tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số, xử lý nghiêm các hành vi sao chép, đăng tải, phát tán hoặc chia sẻ trái phép sách, báo, phim, âm nhạc, phần mềm và các nội dung được bảo hộ quyền tác giả khi chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu.
Trong lĩnh vực giao dịch điện tử, Nghị định bổ sung các quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm liên quan đến chữ ký điện tử, chứng thư điện tử, dữ liệu điện tử và dịch vụ tin cậy, góp phần bảo đảm an toàn, minh bạch trong hoạt động giao dịch trực tuyến.
Đối với lĩnh vực viễn thông, Nghị định tiếp tục siết chặt quản lý SIM thuê bao, SIM không chính chủ, tin nhắn rác, cuộc gọi rác, thư điện tử rác và các hành vi sử dụng dịch vụ viễn thông trái quy định, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng.
Một điểm mới đáng chú ý là Nghị định cho phép sử dụng chứng cứ điện tử, lập biên bản điện tử và thực hiện xử phạt bằng phương thức điện tử, tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trên môi trường số.
Nghị định quy định mức phạt tối đa đối với cá nhân là 40 triệu đồng trong lĩnh vực bưu chính và giao dịch điện tử; 100 triệu đồng trong lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện và công nghệ thông tin.Có thể thấy, Nghị định số 174/2026/NĐ-CP là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân, góp phần xây dựng môi trường số an toàn, lành mạnh, minh bạch, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, xã hội số và chuyển đổi số quốc gia.
Chia sẻ thông tin – đừng để một cú nhấp chuột trở thành hành vi vi phạm
Một trong những vấn đề thường gặp hiện nay là việc sao chép, đăng lại và chia sẻ nội dung trên Internet, đặc biệt là các tác phẩm báo chí.
Không phải cứ nhìn thấy một nội dung trên Internet là người dùng có quyền tự do sao chép và đăng lại. Theo nội dung tài liệu, việc chỉ chia sẻ đường link của một bài báo về cơ bản không phải là hành vi sao chép tác phẩm, bởi người đọc được dẫn đến trang của cơ quan báo chí để tiếp cận nội dung gốc.
Tuy nhiên, nếu người dùng vừa chia sẻ đường link vừa đăng tải một phần hoặc toàn bộ nội dung bài báo khi chưa được cơ quan báo chí hoặc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ cho phép thì hành vi này có thể bị xem xét là vi phạm quyền tác giả.
Đáng lưu ý hơn, ngay cả khi không sao chép nguyên văn mà lấy thông tin từ một bài báo rồi viết lại bằng câu chữ khác, việc sử dụng thông tin vẫn cần được xem xét trên từng trường hợp cụ thể. Đặc biệt, với những nội dung do cơ quan báo chí tự khai thác, thu thập, phân tích, phỏng vấn hoặc có tính chất độc quyền, việc sử dụng lại để tạo thành tác phẩm khác vẫn có thể bị xem xét về hành vi xâm phạm quyền tác giả.
Vì vậy, khi chia sẻ thông tin trên mạng xã hội, người dùng cần hình thành thói quen tôn trọng nguồn tin, tôn trọng quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ. Trong nhiều trường hợp, cách làm đơn giản và an toàn nhất là chia sẻ đường link đến nguồn chính thống thay vì sao chép toàn bộ nội dung.
Kiểm chứng trước khi chia sẻ – trách nhiệm của mỗi người dùng mạng
Trong môi trường số, tốc độ lan truyền thông tin có thể nhanh hơn rất nhiều so với khả năng kiểm chứng. Một thông tin sai lệch nếu được chia sẻ liên tục có thể nhanh chóng tạo thành tâm lý hoang mang, gây ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức và cộng đồng.
Do đó, mỗi người dùng mạng xã hội cần tự đặt cho mình một “bước dừng” trước khi nhấn nút Đăng – Bình luận – Chia sẻ.
Trước một thông tin chưa rõ nguồn gốc, cần tự hỏi: Thông tin này đến từ đâu? Nguồn có chính thống không? Nội dung đã được kiểm chứng chưa? Việc chia sẻ có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác hay không?
Đặc biệt, cần thận trọng với các nội dung có dấu hiệu giật gân, kích động, xuyên tạc, vu khống hoặc kêu gọi chia sẻ với tốc độ cao. Tài liệu cũng nhấn mạnh yêu cầu người dùng phải kiểm chứng thông tin trước khi đăng tải, bình luận hoặc chia sẻ; không phát tán tin giả, thông tin sai sự thật, nội dung xuyên tạc, vu khống, xâm phạm bản quyền hoặc tiếp tay cho các hành vi vi phạm pháp luật.
Sử dụng mạng xã hội văn minh cũng là một biểu hiện của ý thức pháp luật
Pháp luật về môi trường số không chỉ nhằm xử phạt những hành vi vi phạm mà quan trọng hơn là hình thành ý thức tự giác chấp hành pháp luật.
Mỗi người dân cần nhận thức rằng, phía sau mỗi tài khoản mạng xã hội là một chủ thể có quyền và nghĩa vụ pháp lý. Những lời nói, hình ảnh, bài viết, bình luận hay lượt chia sẻ của chúng ta đều có thể tạo ra tác động trong đời thực. Một bình luận có trách nhiệm có thể góp phần lan tỏa thông tin tích cực. Một lượt chia sẻ đúng nguồn có thể giúp cộng đồng tiếp cận thông tin chính xác. Ngược lại, một nội dung sai sự thật được chia sẻ thiếu suy nghĩ có thể gây hậu quả cho người khác và chính người chia sẻ. Vì vậy, văn hóa ứng xử trên không gian mạng trước hết phải được xây dựng từ ý thức pháp luật của mỗi cá nhân. Bên cạnh trách nhiệm của người sử dụng, các tổ chức, doanh nghiệp và quản trị viên nền tảng số cũng cần chủ động quản lý nội dung, bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật.
Chủ động trang bị “kỹ năng pháp lý” khi tham gia môi trường số
Chuyển đổi số đang mở ra những cơ hội rất lớn cho phát triển kinh tế – xã hội. Nhưng để những cơ hội đó thực sự phát huy hiệu quả, môi trường số cần được xây dựng trên nền tảng an toàn, lành mạnh, minh bạch và thượng tôn pháp luật.
Từ góc độ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, có thể thấy rằng việc nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân trong môi trường số cần được thực hiện thường xuyên, thiết thực và gắn với những tình huống mà người dân gặp phải hằng ngày. Mỗi người dân có thể bắt đầu từ những việc rất đơn giản:
Một là, kiểm chứng thông tin trước khi đăng tải, bình luận hoặc chia sẻ.
Hai là, ưu tiên tiếp nhận và lan truyền thông tin từ các cơ quan báo chí, cơ quan nhà nước và các nguồn chính thống, đáng tin cậy.
Ba là, không đăng tải, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của tổ chức, cá nhân.
Bốn là, tôn trọng quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ; không tùy tiện sao chép, đăng lại, phát tán các nội dung được pháp luật bảo hộ khi chưa được phép.
Năm là, chủ động nâng cao kỹ năng số, kỹ năng nhận diện thông tin xấu, độc và các nguy cơ trên môi trường mạng.
Sáu là, khi phát hiện những nội dung có dấu hiệu vi phạm pháp luật, cần có cách ứng xử phù hợp, không tiếp tục bình luận, chia sẻ hoặc vô tình trở thành người lan truyền nội dung vi phạm.
Xây dựng môi trường mạng an toàn bắt đầu từ ý thức của mỗi người
Không gian mạng là một phần của đời sống xã hội hiện đại. Vì vậy, xây dựng môi trường mạng an toàn, lành mạnh không thể chỉ trông chờ vào cơ quan quản lý nhà nước hay các doanh nghiệp cung cấp nền tảng, mà cần sự tham gia có trách nhiệm của toàn xã hội. Nghị định số 174/2026/NĐ-CP được xác định là một trong những cơ sở pháp lý nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân, góp phần xây dựng môi trường số an toàn, lành mạnh, minh bạch, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, xã hội số và chuyển đổi số quốc gia.
Mỗi người dùng Internet hãy là một “người dùng số có trách nhiệm”: đọc kỹ trước khi tin, kiểm chứng trước khi chia sẻ, suy nghĩ trước khi bình luận và tôn trọng pháp luật trong từng hành động trên không gian mạng. Đó không chỉ là cách để mỗi cá nhân tự bảo vệ mình trước những rủi ro pháp lý, mà còn là hành động thiết thực góp phần xây dựng một không gian mạng an toàn, văn minh, nhân văn và thượng tôn pháp luật.
                                                                                                                                                       Phòng PBGDPL&TDTHPL

More