Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 1

  • Hôm nay 866

  • Tổng 9.211.258

Tìm hiểu Luật Báo chí và các quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam

Post date: 08/02/2017

Font size : A- A A+
Ngày ngày 05/4/2016 Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 11 đã thông  qua Luật Báo chí và Chủ tịch nước đã ký lệnh Công bố ngày 29/4/2016. (Luật này thay thế Luật Báo chí năm 1989, sửa đổi, bổ sung năm 1999), Luật gồm có 06 chương, 61 điều và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017.

         So với Luật Báo chí năm 1989,(sửa đổi bổ sung năm 1999), Luật báo chí năm 2016 tăng 25 điều, trong đó có 32 điều mới, 29 điều sửa đổi, bổ sung; không quy định chương quản lý nhà nước về báo chí mà chỉ quy định ở Điều 6 nội dung quản lý nhà nước về báo chí và ở Điều 7 cơ quan quản lý nhà nước về báo chí; thay đổi kết cấu chương III (Nhiệm vụ quyền hạn của báo chí), chương IV (Tổ chức báo chí và nhà báo) của Luật báo chí 1999 thành chương III (Tổ chức báo chí) và chương IV (Hoạt động báo chí) trong Luật Báo chí năm 2016.
        Luật Báo chí đã quy định về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; tổ chức và hoạt động báo chí; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có liên quan đến hoạt động báo chí; quản lý nhà nước về báo chí. Đối tượng áp dụng của Luật là các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có liên quan đến hoạt động báo chí tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Báo chí được nêu trong Luật đó là các sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử. Luật Báo chí quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí, theo đó, Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân. Báo chí có nhiệm vụ, quyền hạn: Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân; Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, Mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của Nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của Nhân dân; Phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội; Góp phần giữ gìn sự trong sáng và phát triển tiếng Việt, tiếng của các dân tộc thiểu số Việt Nam; Mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, hữu nghị, hợp tác, phát triển bền vững.
         Luật Báo chí cũng đã quy định về chính sách của Nhà nước về phát triển báo chí; nội dung quản lý nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí. Luật quy định về Hội Nhà báo Việt Nam; các hành vi bị nghiêm cấm; quy định về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Điều 10 Luật Báo chí đã quy định Quyền tự do báo chí của công dân, bao gồm: Sáng tạo tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông tin báo chí; liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; in, phát hành báo in. Điều 11 đã quy định Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, bao gồm: Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác. Luật cũng đã quy định trách nhiệm của cơ quan báo chí và trách nhiệm của Nhà nước đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; đối tượng được thành lập cơ quan báo chí, quyền hạn và nhiệm vụ của cơ quan chủ quản báo chí, quy định về cơ quan báo chí; giấy phép hoạt động báo chí và điều kiện cấp giấy phép hoạt động báo chí; các loại hình hoạt động và nguồn thu của cơ quan báo chí; Văn phòng đại diện, phóng viên thường trú của cơ quan báo chí. Quy định về người đứng đầu và nhiệm vụ, quyền hạn của người đứng đầu cơ quan báo chí; quy định quyền và nghĩa vụ của nhà báo; đối tượng, điều kiện, tiêu chuẩn được xét cấp thẻ nhà báo; cấp, đổi, thu hồi thẻ nhà báo. Quy định về thực hiện thêm loại hình báo chí; cấp giấy phép và điều kiện xuất bản thêm ấn phẩm báo chí, phụ trương; sản xuất thêm kênh phát thanh, kênh truyền hình; mở chuyên trang của báo điện tử; xuất bản bản tin thông tấn, biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền; xuất bản bản tin, đặc san; trang thông tin điện tử tổng hợp, theo đó Bản tin phải bảo đảm các quy định đó là: Khuôn khổ tối đa của bản tin là 19cm x 27cm, số trang tối đa là 64 trang; không được quảng cáo trong bản tin. Điều kiện để được cấp giấy phép xuất bản bản tin gồm: Có người chịu trách nhiệm về việc xuất bản bản tin; tổ chức bộ máy hoạt động phù hợp bảo đảm cho việc xuất bản bản tin; xác định rõ tên bản tin, mục đích xuất bản và nội dung thông tin, đối tượng phục vụ, phạm vi phát hành, ngôn ngữ thể hiện, kỳ hạn xuất bản, khuôn khổ, số trang, số lượng, nơi in; có địa điểm làm việc chính thức và các điều kiện cần thiết bảo đảm cho việc xuất bản bản tin.
         Luật Báo chí còn quy định về liên kết trong hoạt động báo chí, trả lời và trả lời phỏng vấn trên báo chí, cải chính, phản hồi thông tin, quảng cáo trên báo chí. Quy định về họp báo, quyền tác giả trong lĩnh vực báo chí; các thông tin phải ghi, thể hiện trên báo chí. Quy định về bảo vệ nội dung các chương trình phát thanh, chương trình truyền hình, nội dung báo điện tử; quy địnhu về việc in, phát hành báo chí; đăng ký cung cấp kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền; cung cấp dịch vụ truyền dẫn, phát sóng. Quy định về hooạt động hợp tác của cơ quan báo chí Việt Nam với nước ngoài ; hoạt động báo chí của báo chí nước ngoài, cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam. Quy định về thanh tra chuyên ngành, về khen thưởng và xử lý vi phạm trong lĩnh vực báo chí.
         So với Luật Báo chí năm 1989,(sửa đổi bổ sung năm 1999), Luật báo chí năm 2016 có một số điểm mới cơ bản, đó là: Luật quy định về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân (chương II), đồng thời quy định về trách nhiệm của cơ quan báo chí, của nhà nước đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Về đối tượng thành lập cơ quan báo chí (Điều 14), ngoài các đối tượng theo luật hiện hành, Luật đã bổ sung thêm một số đối tượng được thành lập tạp chí khoa học như: Cơ sở giáo dục đại học theo quy định của Luật Giáo dục đại học; tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tổ chức dưới hình thức viện hàn lâm, viện theo quy định của Luật khoa học và Công nghệ; bệnh viện từ cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc tương đương trở lên. Luật đã bổ sung quy định về liên kết trong hoạt động báo chí (Điều 37), trong đó quy định cụ thể lĩnh vực, nội dung các cơ quan báo chí được phép liên kết và thời lượng tối đa đối với các sản phẩm dựa trên các hoạt động liên kết. Về quyền tác nghiệp báo chí, Luật quy định cụ thể về trách nhiệm cung cấp thông tin cho báo chí của cơ quan, tổ chức, người có trách nhiệm; những thông tin có quyền từ chối cung cấp cho báo chí, đồng thời quy định giới hạn việc cơ quan báo chí, nhà báo chỉ phải tiết lộ người cung cấp thông tin chỉ khi có yêu cầu bằng văn bản của chủ thể cụ thể có thẩm quyền. luật đã quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo, trách nhiệm của Hội nhà báo Việt Nam và nhà báo trong việc tổ chức thực hiện và tuân thủ các quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo. Về hoạt động kinh doanh dịch vụ của cơ quan báo chí, Luật quy định theo hướng mở hơn (điểm c, khoản 2, Điều 21), theo đó, nguồn thu của cơ quan báo chí gồm thu từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ của cơ quan báo chí, đơn vị trực thuộc cơ quan báo chí. Về những hành vi bị cấm trong hoạt động báo chí, Luật quy định cụ thể, rõ ràng hơn đồng thời bổ sung thêm 1 số hành vi như: Thông tin quy kết tội danh khi chưa có bản án của tòa án, thông tin ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của trẻ em…Về cải chính và xử lý vi phạm, Luật bổ sung một số quy định mới về cải chính như trình tự thủ tục cải chính đối với báo chí điện tử, vị trí cải chính đối với từng loại hình báo chí; bổ sung một số quy định mới về xử lý vi phạm trong lĩnh vực báo chí. Một trong những điểm mới của Luật là đã quy định nhiều nội dung cởi mở và thông thoáng hơn so với quy định pháp luật báo chí hiện hành như: điều kiện cấp thẻ nhà báo; đặt văn phòng đại diện của cơ quan báo chí; hoạt động hợp tác của báo chí Việt Nam với nước ngoài. Luật đã pháp điển hóa quy định tại các Nghị định của Chính phủ để đưa vào luật, bổ sung một số quy định mới điều chỉnh hoạt động báo chí như: chính sách nhà nước về báo chí; thay đổi cơ quan chủ quản của cơ quan báo chí; hoạt động hợp tác của báo chí Việt Nam với nước ngoài…
         Sẽ được thực hiện cùng Luật báo chí bắt đầu từ ngày 01-01-2017 là 10 Quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo do Hội Nhà báo Việt Nam ban hành, bao gồm: Trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; vì lợi ích của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân; góp phần nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Nghiêm chỉnh thực hiện Hiến pháp, Luật Báo chí, Luật bản quyền và các quy định của pháp luật. Thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích; nội quy, quy chế của cơ quan báo chí nơi công tác. Hành nghề trung thực, khách quan, công tâm, không vụ lợi. Bảo vệ công lý và lẽ phải. Không làm sai lệch, xuyên tạc, che giấu sự thật, gây chia rẽ, kích động xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tình đoàn kết, hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc. Nêu cao tinh thần nhân văn, tôn trọng quyền con người. Không xâm phạm đời tư, làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân. Chuẩn mực và trách nhiệm khi tham gia mạng xã hội và các phương tiện truyền thông khác. Bảo vệ bí mật quốc gia, bí mật nguồn tin theo quy định của pháp luật. Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp. Tích cực học tập, nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, ngoại ngữ, phấn đấu vì một nền báo chí dân chủ, chuyên nghiệp và hiện đại. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Những người làm báo Việt Nam cam kết thực hiện những quy định trên, đó là bổn phận và nguyên tắc hành nghề, là lương tâm và trách nhiệm của người làm báo.

Luật gia Minh Hương

More