Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 4

  • Hôm nay 4807

  • Tổng 9.203.602

Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật Giám định tư pháp

Post date: 01/02/2019

Font size : A- A A+

Luật Giám định tư pháp được Quốc hội Khóa XIII thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013, được ra đời trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định của Pháp lệnh giám định tư pháp và các quy định có liên quan khác, đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc củng cố, kiện toàn tổ chức, đội ngũ người giám định tư pháp, hoàn thiện cơ chế hoạt động, quản lý giám định tư pháp trong cả nước.

Theo báo cáo trình bày tại hội nghị đã đánh giá, công tác triển khai tổ chức thi hành Luật Giám định tư pháp đã được tiến hành kịp thời từ trung ương đến địa phương; các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành hệ thống tương đối đồng bộ, hoàn chỉnh các văn bản quy định chi tiết và các văn bản chỉ đạo, đôn đốc thi hành. Luật Giám định tư pháp đã đi vào đời sống xã hội, tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành ở Trung ương và địa phương về ý nghĩa, vai trò của công tác giám định tư pháp, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống các quy định về giám định tư pháp ở các lĩnh vực, tiếp tục hoàn thiện thiết chế tổ chức, cơ chế hoạt động và quản lý nhà nước về giám định tư pháp. Công tác giám định tư pháp có những bước chuyển biến tích cực, ngày càng nề nếp, hiệu quả, phục vụ tốt hơn cho hoạt động tố tụng.
Để đánh giá quá trình triển khai Luật Giám định tư pháp, ngày 22/11/2018, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị tổng kết 5 năm thi hành Luật Giám định tư pháp. Tại hội nghị, đại diện các bộ, ngành, các địa phương cũng đã đưa ra nhiều ý kiến về những bất cập trong triển khai thực hiện Luật Giám định tư pháp. Đa số ý kiến cho rằng, sau 5 năm thi hành, một số quy định của Luật Giám định tư pháp đã bộc lộ sự chưa phù hợp với tình hình hiện nay trong khi pháp luật tố tụng đã được sửa đổi, bổ sung. Thời gian qua, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính đã được sửa đổi, bổ sung, trong đó có một số quy định về giám định tư pháp đã thay đổi, do vậy, có những quy định của Luật Giám định tư pháp cần phải sửa đổi, bổ sung cho thống nhất. Đặc biệt, trước yêu cầu đẩy mạnh cải cách tư pháp, cải cách hành chính, đấu tranh phòng chống tội phạm tham nhũng thì một số vấn đề liên quan đến tổ chức, cơ chế hoạt động, quản lý giám định tư pháp cũng cần được xem xét, tính toán đến trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Giám định tư pháp có liên quan đến pháp luật tố tụng như vấn đề mở rộng phạm vi hoạt động giám định tư pháp cho phù hợp với tinh thần mở rộng dân chủ, tăng cường tranh tụng tại phiên tòa; mở rộng phạm vi cho phép thành lập văn phòng giám định tư pháp ở một số lĩnh vực thực sự có nhu cầu lớn mà hiện nay đang do Nhà nước bảo đảm để giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước; bảo đảm phù hợp với quy luật cung cầu của cơ chế thị trường liên quan đến phạm vi xã hội hóa theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; chính sách ưu đãi, thu hút các tổ chức, nhà chuyên môn có năng lực tham gia hoạt động giám định tư pháp phù hợp với tính chất đặc thù của lĩnh vực giám định tư pháp có liên quan đến chính sách ưu đãi xã hội hóa và các đạo luật về thuế…
Hội nghị cũng đã chỉ ra nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thi hành Luật, cụ thể như sau:
Một là, nhận thức của một số Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan tiến hành tố tụng cấp Trung ương và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, đặc biệt là của người đứng đầu chưa xác định đầy đủ về tầm quan trọng của công tác giám định tư pháp đối với hoạt động tố tụng cũng như trách nhiệm của cơ quan mình đối với công tác giám định tư pháp. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về giám định tư pháp ở nhiều Bộ, ngành, địa phương còn hình thức, hạn chế.
Hai là, công tác tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao về giám định tư pháp ở một số Bộ, ngành còn nhiều tồn tại; việc chỉ đạo, triển khai thực hiện nhiệm vụ thuộc thẩm quyền quản lý chưa được đề cao, còn chưa chủ động, thiếu kiểm tra, giám sát dẫn đến nhiều nhiệm vụ được giao vẫn chưa được thực hiện hoặc đã thực hiện nhưng chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đây là nguyên nhân chính khiến cho một số khó khăn, vướng mắc lâu năm trong hoạt động giám định tư pháp chưa được khắc phục như vấn đề kinh phí bảo đảm chi trả chi phí giám định, trách nhiệm của cơ quan tố tụng trong việc thống kê, đánh giá, dự báo nhu cầu giám định để thông tin, phối hợp với các cơ quan quản lý…
Ba là, một số quy định của Luật Giám định tư pháp và các văn bản hướng dẫn chưa thực sự cụ thể, rõ ràng và khả thi, cụ thể như: phạm vi các lĩnh vực được phép thành lập Văn phòng giám định tư pháp, điều kiện thành lập Văn phòng giám định tư pháp không khả thi; quy định về hồ sơ bổ nhiệm giám định viên tư pháp, các trường hợp miễn nhiệm giám định viên tư pháp chưa phù hợp với thực tế; quy trình bổ nhiệm giám định viên tư pháp, lập danh sách, điều chỉnh danh sách tổ chức, người giám định tư pháp chưa bảo đảm căn cứ thực tế nhu cầu giám định của hoạt động tố tụng; thiếu quy định mang tính nguyên tắc phân cấp trong tiếp nhận trưng cầu và thực hiện giám định giữa cấp Trung ương và địa phương…
Từ những lý do nêu trên thì việc nghiên cứu, đề xuất để sửa đổi, bổ sung Luật Giám định tư pháp là yêu cầu tất yếu và cần thiết. Bên cạnh đó, mặc dù nhiều vấn đề đã được Luật Giám định tư pháp quy định nhưng chưa được một số bộ, ngành thực hiện chưa đầy đủ, chẳng hạn như việc ban hành hướng dẫn về quy chuẩn chuyên môn mà trong đó cần quy định rõ thời hạn giám định từng loại việc trong từng lĩnh vực giám định, hoặc về thống kê giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng cũng như chưa thực sự có giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp ở một số lĩnh vực…Do vậy, việc rà soát kỹ các quy định của Luật Giám định tư pháp để phân loại những quy định hợp lý và những quy định bất cập để xác định rõ nguyên nhân xuất phát từ quy định của Luật hay do công tác tổ chức thi hành hay do yêu cầu của tình hình mới đặt ra. Việc định hướng sửa đổi, bổ sung phải xuất phát từ những vấn đề bất cập từ quy định của Luật và yêu cầu thực tiễn đặt ra trong tình mới có nhiều thay đổi. Trên cơ sở kiến nghị của các Bộ, ngành, địa phương từ thực tiễn triển khai thi hành Luật Giám định tư pháp, kết hợp với kết quả nghiên cứu trong quá trình thực hiện Luật, bước đầu có thể nêu ra một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Giám định tư pháp như sau:
Thứ nhất, mở rộng phạm vi hoạt động giám định tư pháp thông qua việc sửa đổi, mở rộng quyền tự yêu cầu giám định của người tham gia tố tụng để đảm bảo điều kiện, phương tiện tìm kiếm chứng cứ phục vụ cho việc bảo vệ quyền và lợi ích của họ khi tham gia tố tụng theo tinh thần mở rộng dân chủ, tăng cường tranh tụng tại tòa.
Thứ hai, bổ sung quy định mang tính nguyên tắc về thời hạn giám định, quy định trách nhiệm của các Bộ, ngành chuyên quản lĩnh vực giám định trong việc ấn định thời hạn giám định cụ thể để đảm bảo tính đồng bộ, tương thích với quy định của pháp luật tố tụng, đặc biệt là khắc phục tình trạng chậm trễ trong tiếp nhận, thực hiện giám định trong thời gian qua, gây ảnh hưởng đến tiến độ xử lý các vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế.
Thứ ba, bổ sung một số quy định về căn cứ, cách thức trưng cầu giám định, đánh giá, sử dụng kết luận của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như trách nhiệm của các cơ quan trưng cầu giám định để khắc phục những tồn tại hiện nay về giám định tư pháp mà nguyên nhân xuất phát từ chính các cơ quan tố tụng, nhất là tình trạng lạm dụng giám định tư pháp để gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố và xét xử theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng.
Thứ tư, bổ sung quy định mang tính phân cấp trong tiếp nhận trưng cầu và thực hiện giám định ở cấp Trung ương và cấp tỉnh để khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trong tiếp nhận và thực hiện giám định ở nhiều địa phương và Bộ, ngành chủ quản.
Thứ năm, mở rộng phạm vi xã hội hoá giám định tư pháp theo hướng cho phép thành lập Văn phòng giám định tư pháp ở một số lĩnh vực, chuyên ngành giám định thực sự có nhu cầu lớn, thường xuyên để đáp ứng nhu cầu bức thiết của các đương sự trong các vụ án dân sự, hành chính và một số cơ quan nhà nước như thanh tra, kiểm toán, ngân hàng… nhằm phát huy mạnh mẽ các nguồn lực xã hội cho giám định tư pháp, bảo đảm đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu giám định tư pháp của hoạt động tố tụng trước yêu cầu đẩy mạnh cải cách tư pháp, giảm gánh nặng cho đầu tư của nhà nước.
Thứ sáu, sửa đổi quy định về cơ chế quản lý nhà nước: theo quy định hiện hành thì Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giám định tư pháp trong toàn quốc; các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là các cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về giám định tư pháp ở lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý và địa phương mình; Sở Tư pháp là đầu mối giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về giám định tư pháp ở địa phương nhưng theo mô hình hiện nay thì chỉ làm đầu mối kết nối thông tin, tổng hợp báo cáo mà không quản lý nhân lực, vật lực và chuyên môn giám định nên hạn chế quyền năng về quản lý nhà nước.
Do đó, để bảo đảm hiệu lực, hiệu, hiệu quả quản lý nhà nước về giám định tư pháp thì cần giao nhiệm vụ quản lý cho trực tiếp các Bộ, ngành quản lý ở từng lĩnh vực giám định và các cơ quan này chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc bảo đảm nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết khác phù hợp với đặc thù lĩnh vực chuyên môn của mình. Mục đích là nhằm đáp ứng tốt yêu cầu giám định của hoạt động tố tụng vì bản chất hoạt động giám định là hoạt động chuyên môn phục vụ cho tố tụng, không nên giao cho Bộ Tư pháp quản lý chung như hiện nay. Việc bỏ nhiệm vụ quản lý chung của Bộ Tư pháp đối với lĩnh vực giám định tư pháp là phù hợp với tinh thần cải cách hành chính, đặc biệt, phù hợp với nguyên tắc bảo đảm phát huy vai trò, tăng cường trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ trong việc giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lĩnh vực chuyên môn được giao, khắc phục tình trạng chồng chéo, cắt khúc, thiếu hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác giám định tư pháp ở cấp Trung ương cũng như ở các địa phương hiện nay.
Từ Minh Liên

More