Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 3

  • Hôm nay 571

  • Tổng 9.204.690

Để công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở khu vực biên giới đạt hiệu quả cao hơn

8:22, Thứ Bảy, 18-8-2018

Xem với cỡ chữ : A- A A+
Tỉnh Quảng Bình có 05 huyện, 09 xã tiếp giáp với biên giới Lào và 29 xã, phường 06 huyện, thị xã, thành phố có biên giới biển.

Từ chỗ khu vực biên giới không có xã trọng điểm về vi phạm pháp luật thì hiện nay đã có 07 xã (Dân Hóa, Trọng Hóa, Quảng Đông, Quảng Phú, Hồng Thủy, Sen Thủy, Thanh Trạch) là xã biên giới trọng điểm về vi phạm pháp luật trên một số lĩnh vực như  tệ nạnma túy, hình sự, an toàn giao thông, đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng…

Để góp phần hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật cho cán bộ và nhân dân toàn tỉnh nói chung và khu vực biên giới nói riêng, các cấp, các ngành, đơn vị, địa phương trong tỉnh đã tích cực triển khai thực hiện các hoạt động PBGDPL bằng nhiều hình thức phù hợp.Thông qua các chương trình, đề án, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền của cá nhân, của công dân trong việc học tập, tìm hiểu, tuyên truyền, PBGDPL được xác định rõ. Tổ chức, đội ngũ làm công tác PBGDPL, hòa giải ở cơ sở tiếp tục được củng cố, họat động ngày càng nền nếp. Giúp UBND chỉ đạo, điều hành công tác PBGDPL là các Ban chỉ đạo và Hội đồng phối hợp PBGDPL. Cơ chế phối hợp trong PBGDPL từng bước được xác lập. Vai trò của Mặt trận, các tổ chức thành viên, của cơ quan tư pháp, Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL các cấp được khẳng định và không ngừng phát huy hiệu quả. Các cấp ủy, chính quyền các cấp ngày càng xác định đúng vai trò của công tác PBGDPL nên đã quan tâm hơn. Hình thức PBGDPL phong phú, đa dạng, không ngừng được đổi mới, vận dụng sáng tạo phù hợp với đặc điểm cụ thể về đối tượng, địa bàn.
 Giai đoạn 2013-2016, thực hiện Quyết định 1133/QĐ-TTg ngày 15/7/2013, Quảng Bình triển khai 06 Đề án về PBGDPL trong đó có Đề án “Tăng cường PBGDPL cho cán bộ và nhân dân vùng biên giới và hải đảo” do Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng chủ trì thực hiện và hiện nay Đề án được kéo dài đến năm 2021 theo Quyết định 705/QĐ-TTg ngày 25/5/2017. Đây là một trong năm Đề án của giai đoạn 2013-2016 được kéo dài đến năm 2021 và là một trong tám Đề án theo Quyết định 705/QĐ-TTg.
Đây là Đề án được Hội đồng PHPBGDPL và Ban Chỉ đạo 1133 và hiện nay là Ban chỉ đạo 705 đánh giá là cơ quan chủ trì đã thực hiện nghiêm túc, tích cực, chủ động, trách nhiệm, bài bản từ việc ban hành văn bản chỉ đạo, phương pháp chỉ đạo đến tổ chức thực hiện. Cơ quan chủ trì đã tích cực phối hợp với các cơ quan có liên quan, thường xuyên trao đổi thông tin với cơ quan thường trực, tranh thủ ý kiến của Hội đồng Phối hợp PBGDPL và Ban Chỉ đạo (thông qua cơ quan thường trực là Sở Tư pháp) để tổ chức các hoạt động đảm bảo chất lượng, hiệu quả.
Trên cơ sở các văn bản định hướng, chỉ đạo của HĐPH, của BCĐ và hướng dẫn Sở Tư pháp,  Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng , các cơ quan thành viên của Đề án, UBND cấp huyện đã tích cực triển khai thực hiện. Theo đó, đã tiếp tục phát triển, mở rộng các hình thức PBGDPL hiệu quả. Đồn Biên phòng đã phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức tuyên truyền thông qua đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên là cán bộ vận động quần chúng BĐBP, giáo viên, Chi hội phụ nữ, công chức Tư pháp- Hộ tịch. Các địa phương đã thành lập và duy trì hoạt động Tổ tư vấn pháp luật. Các Đồn Biên phòng thành lập các Tổ giảng dạy chính trị, PBGDPL. Tăng cường các hoạt động tuần tra trên biển, bảo vệ biên giới, cửa khẩu; kiểm soát các bến neo đậu tàu thuyền của ngư dân để kết hợp tuyên truyền, PBGDPL bằng nhiều hình thức, tập trung theo từng nhóm đối tượng hoặc đến từng phương tiện để tuyên truyền. Đối tượng được tuyên truyền, ngoài nhân dân thường trú tại khu vực biên giới, còn tuyên truyền cho các đối tượng khác có hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, ngư dân đánh bắt hải sản…trong khu vực biên giới
Để phù hợp với đối tượng đặc thù, Sở Tư pháp đã chú trọng trong việc lựa chọn hình thức, nội dung việc tuyên truyền, PBGDPL để hướng dẫn cơ quan chủ trì Đề án, các cơ quan phối hợp thực hiện, cũng như tổ chức các hoạt động PBGDPL trực tiếp tại các xã khu vực biên giới, thông qua các hình thức như: bồi dưỡng kiến thức pháp luật; cấp mới tủ sách pháp luật, cấp phát tờ gấp, tài liệu; tổ chức Hội thi Hoà giải viên giỏi; thi tìm hiểu Hiến pháp 2013, thi tìm hiểu pháp luật về an toàn giao thông; thực hiện TGPL lưu động, qua sinh hoạt cộng đồng, lễ hội... Đồng thời, lồng ghép trong việc đăng ký, quản lý hộ tịch tại các xã biên giới và các đợt rà soát, đánh giá việc di cư tự do và hôn nhân ngoài giá thú tại khu vực biên giới để tuyên truyền pháp luật. Nội dung tuyên truyền gồm đường lối, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, Công ước Luật biển năm 1982, Hiến pháp năm 2013, các văn bản pháp luật trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng, về chủ quyền quốc gia, về biên giới, hải đảo; pháp luật trong lĩnh vực dân sự, hình sự, về hôn nhân và gia đình, quốc tịch, xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, an toàn giao thông, bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, tìm kiếm cứu nạn, bảo vệ môi trường, phòng chống ma tuý…
Tuy nhiên quá trình thực hiện còn có một số khó khăn, hạn chế, như: Đội ngũ cán bộ tuyên truyền biết tiếng dân tộc thiểu số còn ít, còn thiếu kỹ năng nhất là kỹ năng tuyên truyền miệng. Đối tượng được tuyên truyền do đặc thù nghề nghiệp nên thường xuyên không sinh sống tại địa phương (bao gồm cả người ở khu vực khác có hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, ngư dân đánh bắt hải sản và cả người có hộ khẩu tại địa phương cũng không thường xuyên có mặt tại nơi có hộ khẩu thường trú. Người có hành vi vi phạm, bị phát hiện trên vùng biên giới thuộc địa bàn Quảng Bình cũng không phải hoàn toàn là người thuộc tỉnh Quảng Bình quản lý) nên khó khăn trong việc tiếp cận, trong việc tuyên truyền;
- Một số cán bộ lãnh đạo địa phương chưa thực sự quan tâm đến công tác PBGDPL, chưa xác định rõ trách nhiệm của mình nên còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, coi nhiệm vụ PBGDPL là của công chức Tư pháp hoặc của BĐBP. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong công tác PBGDPL chưa thực sự gắn kết, nhịp nhàng, phần lớn chưa phát huy hết trách nhiệm và khả năng phối hợp.
- Đội ngũ cán bộ chuyên trách đã được quan tâm củng cố song năng lực công tác không đồng đều, một số còn hạn chế. Lực lượng báo cáo viên pháp luật có khả năng thực hiện nhiệm vụ PBGDPL, nhất là với hình thức tuyên truyền miệng còn ít.
- Mặc dù hình thức PBGDPL đã có sự đổi mới nhưng chưa thực sự hấp dẫn, chưa có điều kiện thực hiện rộng rãi, thường xuyên; nhiều chương trình, đề án còn dàn trải nên có một số nội dung cũng như tiến độ thực hiện PBGDPL kết quả chưa đạt như mong muốn.
- Số lượng văn bản cần tuyên truyền quá nhiều (Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư...) và thường xuyên sửa đổi, bổ sung, thay thế nên việc tuyên truyền mới chỉ mang tính chất giới thiệu;
- Trình độ dân trí, mức độ nhận thức, nhu cầu tìm hiểu pháp luật không đồng đều Tính tự giác, thói quen tìm hiểu, nghiên cứu pháp luật chưa cao; tình trạng trông chờ, ỷ lại việc triển khai thực hiện từ phía cơ quan nhà nước vẫn còn phổ biến. Một bộ phận không nhỏ cán bộ và nhân dân chưa ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong việc tìm hiểu, học tập, nghiên cứu pháp luật.
- Kinh phí đầu tư cho công tác tuyên truyền quá ít nên việc áp dụng còn hạn chế, thiếu thường xuyên, liên tục; Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND tỉnh đã quy định mức chi cho công tác hòa giải và người làm công tác hòa giải nhưng hầu như chưa được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc.
Để công tác PBGDPL ở vùng biên giới đạt hiệu quả cao hơn, trong thời gian tới cần thực hiện một số nọi dung sau:
- Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 32 về tăng cường sự Lãnh đạo của Đảng đối với công tác PBGDPL. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp thực hiện PBGDPL nói chung và cho nhân dân vùng biên giới nói riêng. Trong đó, đề cao trách nhiệm của lãnh đạo các cơ quan, đơn vị đỡ đầu, kết nghĩa với các xã biên giới và trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác PBGDPL. Xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, hoà giải viên ở cơ sở là người tại khu vực biên giới nhằm tạo nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ PBGDPL cho cán bộ và nhân dân trên địa bàn.
- Do đặc thù về đối tượng tuyên truyền nên đề nghị phải đặt trong tổng thể chung của toàn lực lượng, trong mối liên hệ, phối hợp chặt chẽ, mật thiết, thường xuyên của chính quyền địa phương trong toàn tuyến biên giới mới phát huy được hiệu quả.
- Tiếp tục phát huy vai trò đầu mối của cơ quan thường trực và vai trò nòng cốt của lực lượng bộ đội biên phòng. Bởi đây là lực lượng thường trực, tại chỗ, gần dân lại có kiến thức pháp luật tương đối nên rất thuận tiện trong việc triển khai công tác tuyên truyền pháp luật cho người dân, nhất là các văn bản pháp luật có liên quan đến khu vực biên giới.
- Đa dạng hóa các hình thức PBGDPL, trong đó chú trọng lồng ghép tuyên truyền pháp luật với sinh hoạt lễ hội; bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan; củng cố hoạt động hòa giải cơ sở; thực hiện tốt hương ước, quy ước ở thôn, làng; tăng cường trợ giúp pháp lý lưu động đến tận cơ sở. Gắn công tác PBGDPL với thi hành pháp luật, thực hiện Luật tiếp cận thông tin, với giáo dục kiến thức, học văn hóa, đào tạo nghề, với phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Phát huy tính tự giác, ý thức chấp hành pháp luật, hạn chế, tiến tới nói không với vi phạm pháp luật cho đồng bào vùng biên giới.
- Tăng cường đầu tư về nguồn lực, kinh phí cho công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho chính quyền cơ sở nhằm đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ở cơ sở để sử dụng đội ngũ này làm công tác PBGDPL cho nhân dân vùng biên giới. Biên dịch, thu âm hoặc biên soạn tài liệu có nội dung tuyên truyền pháp luật bằng tiếng dân tộc thiểu số.
Tăng cường phối hợp giữa Đồn Biên phòng Cà Roong với Đồn Biên phòng Noỏng Ma, Đồn Biên phòng Cha Lo với Đồn Biên phòng Nà Phàu để tiếp tục tuyên truyền pháp luật cho người dân để tránh tình trạng tái di cư tự do và tái kết hôn không giá thú và tăng cường ý thức chấp hành pháp luật của mỗi bên.
Minh Hương

Các tin khác