Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 8

  • Hôm nay 4564

  • Tổng 9.203.365

Một số vướng mắc về áp dụng thẩm quyền xử phạt và giải pháp hoàn thiện thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

9:44, Thứ Ba, 13-8-2019

Xem với cỡ chữ : A- A A+

“Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”.Như vậy, xử phạt vi phạm hành chính bao gồm các chế tài chủ yếu đánh vào lợi ích kinh tế, tinh thần của người vi phạm. Các chế tài xử phạt hành chính bao gồm: hình thức xử phạt chính, hình thức phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả.

Trong quá trình quản lý hành chính nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội đi đúng trật tự thì điều quan trọng phải có hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoàn chỉnh, đồng bộ, đồng thời trong quá trình triển khai thực hiện, chủ thể có thẩm quyền phải áp dụng có hiệu quả nhiều biện pháp như: tuyên truyền giáo dục pháp luật, tổ chức triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm... trong các biện pháp đó thì xử phạt vi phạm hành chính là một trong những biện pháp hữu hiệu được áp dụng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Tuy nhiên, để một quyết định xử phạt vi phạm hành chính được ban hành có hiệu lực, hiệu quả thì phải bảo đảm tính hợp pháp. Ở đây, là phải đảm bảo hợp pháp về nội dung (căn cứ pháp lý và căn cứ thực tế) và hợp pháp về hình thức (về thẩm quyền và thủ tục). Theo đó thì thẩm quyền chung của chức danh Chủ tịch UBND được quy định tại Điều 38 Luật Xử lý vi phạm hành chính (Luật XLVPHC); thẩm quyền các chức danh thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước được quy định từ Điều 39 đến Điều 51 Luật XLVPHC. Đồng thời, với yêu cầu hợp pháp về thẩm quyền thì đòi hỏi phải hợp pháp về thủ tục xử phạt như: thủ tục lập biên bản vi phạm hành chính, quyết định tạm giữ, trị giá tang vật, phương tiện vi phạm, xác minh, giải trình, thời hạn ra quyết định…tất cả các hoạt động đó phải được tiến hành đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Qua hơn 5 năm triển khai thi hành Luật XLVPHC, chúng ta thấy rằng Luật đã đi vào đời sống góp phần đấu tranh có hiệu quả với các hành vi vi phạm hành chính, bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, trật tự, an toàn xã hội, góp phần nâng cao nhận thức pháp lý, ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân. Nội dung của luật đã quy định cơ bản toàn diện, đầy đủ các nội dung mang tính nguyên tắc về xử lý vi phạm hành chính; hoạt động xử lý vi phạm hành chính đã được các chủ thể có thẩm quyền thực hiện một cách nghiêm túc, kịp thời và xử lý nghiêm minh hơn. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện còn có một số khó khăn, vướng mắc trong việc xác định và phân định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính đó là:
- Về thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền (Từ Điều 38 đến Điều 51 Luật XLVPHC): Luật XLVPHC quy định thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền làm phát sinh nhiều vụ việc vi phạm vượt quá thẩm quyền xử phạt của cơ quan cấp dưới, do vậy phải chuyển lên cơ quan cấp trên giải quyết, từ đó không bảo đảm tính kịp thời, nhanh chóng trong việc xử phạt.
- Về giao quyền xử phạt theo quy định tại Điều 54 Luật XLVPHC chỉ quy định người có thẩm quyền xử phạt có thể giao cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Trên thực tế nhiều đơn vị chưa có cấp trưởng mà chỉ có cấp phó được giao quyền phụ trách. Trường hợp này, Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật XLVP hành chính có quy định: Người được giao nhiệm vụ đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử phạt thì có thẩm quyền xử phạt và được giao quyền xử phạt như cấp trưởng. Tuy nhiên, quy định này chưa làm rõ là người được giao quyền như cấp trưởng có thẩm quyền giao quyền cho cấp phó hay không? Điều này gây lúng túng cho việc thực hiện. Đề nghị bổ sung cho phép trường hợp này cấp phó phụ trách được giao quyền xử phạt vi phạm hành chính của cấp trưởng cho cấp phó khác.
- Đối với trường hợp không xác định được đối tượng vi phạm hành chính thì Luật Xử LVPHC và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa xác định được thẩm quyền tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính như thế nào? (xác định thẩm quyền tịch thu theo thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân hay tổ chức) gây khó khăn cho việc thực hiện. Đề nghị bổ sung quy định cho trường hợp này theo hướng: xác định thẩm quyền tịch thu theo thẩm quyền tịch thu tang vật vi phạm hành chính đối với tổ chức.
- Về thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính: Quy định tại khoản 2 Điều 87 Luật Xử lý vi phạm hành chính: chỉ cho phép cấp trưởng được giao quyền cho cấp phó khi vắng mặt mà không cho phép giao quyền theo vụ việc hoặc giao quyền thường xuyên. Đề nghị sửa đổi theo hướng như quy định tại Điều 54 Luật XLVPHC, cho phép giao quyền theo vụ việc hoặc giao quyền thường xuyên để đảm bảo công việc được giải quyết thuận lợi, đặc biệt là trong những trường hợp cấp trưởng vắng mặt dài hạn.
- Quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến (Điều 63 Luật XLVPHC): Đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết nhưng sau đó không khởi tố vụ án…cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển hồ sơ của vụ việc vi phạm đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để tiến hành xử phạt. Thực tế một số trường hợp trong hồ sơ từ cơ quan tố tụng chuyển đến cho chủ thể có thẩm quyền xử phạt không có Biên bản vi phạm hành chính nên không xác định được hành vi vi phạm và vấn đề này Luật XLVPHC không quy định. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 68 Luật XLVPHC thì Biên bản vi phạm hành chính là một trong những căn cứ để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy, cần phải quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định rõ hành vi vi phạm của chủ thể vi phạm hành chính và phải lập biên bản vi phạn hành chính chuyển đến người có thẩm quyền xử phạt.
- Quy định về nguyên tắc xác định và phân định thẩm quyền xử phạt tại điểm b khoản 4 Điều 52 Luật XLVPHC:“Nếu hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt vi phạm hành chính thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt”. Vấn đề này trong thực tiễn áp dụng còn có nhiều khó khăn, bất cập, đặc biệt là trường hợp xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai về hành vi lấn, chiếm đất. Theo quy định hiện hành thì mức phạt tiền đối với hành vi này chủ yếu thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã. Tuy nhiên, biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng đồng thời hai biện pháp đó là: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu và buộc trả lại đất đã lấn, chiếm. Về biện pháp buộc trả lại đất đã lấn, chiếm theo quy định thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện. Do vậy, theo nguyên tắc xác định thẩm quyền nêu trên thì phần lớn hành vi lấn, chiếm đất phát sinh từ cơ sở đều thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện, điều này đã làm cho việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thiếu tính kịp thời, dẫn đến nhiều vụ việc kéo dài, gây khó khăn trong việc xử lý. Ngoài ra, đất đai là lĩnh vực nhạy cảm, trong qúa trình quản lý còn gặp nhiều khó khăn nên dễ xảy ra tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các chủ thể có thẩm quyền.
Để góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính trong bài viết này tôi nêu một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính:
Một là: Đề nghị Bộ Tư pháp cần rà soát, tổng hợp những khó khăn, vướng mắc, những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời hướng dẫn, xử lý hoặc sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến thẩm quyền xử phạt, trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính nhằm rút ngắn thời gian, đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính.
Hai là: Sửa đổi quy định về thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính của các chức danh có thẩm quyền xử phạt quy định từ điều 31 đến Điều 51 Luật XLVPHC theo hướng không bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền, quy định như vậy để đảm bảo tính kịp thời, nhanh chóng trong việc xử phạt, tránh phát sinh nhiều vụ việc vi phạm vượt quá thẩm quyền xử phạt của cơ quan cấp dưới chuyển lên cấp trên giải quyết.
Ba là: Nghiên cứu để sửa đổi quy định về nguyên tắc xác định và phân định thẩm quyền theo hướng chủ thể có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt chính thì đồng thời có thẩm quyền tịch thu và áp dụng biện các biện pháp khắc phục hậu quả. Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính cần xác định thứ tự ưu tiên các nguyên tắc. Theo đó, người thụ lý đầu tiên có quyền áp dụng các biện pháp xử lý là nguyên tắc ưu tiên trước để đảm bảo nguyên tắc mọi hành vi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật.
Tăng mức xử phạt tiền đối với cá nhân của Chủ tịch UBND cấp xã từ không quá 5.000.000 đ lên không quá 10.000.000đ; Chủ tịch UBND cấp huyện từ không quá 50.000.000 đ lên không quá 100.000.000đ. Ngoài ra, cần nghiên cứu để nâng mức xử phạt tiền cho các chủ thể trực tiếp thi hành công vụ để phù hợp với thực tế thẩm quyền quản lý nhà nước của các chức danh này. Đồng thời, cần rà soát chức năng, nhiệm vụ của các Bộ, ngành, địa phương để sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ chức danh có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính cho phù hợp.
Xử lý vi phạm hành chính là một lĩnh vực có phạm vi quản lý rộng, gắn liền với hoạt động của nhiều ngành, nhiều địa phương; tác động trực tiếp đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội và liên quan đến các ngành luật, văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Chính vì vậy, xây dựng một hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói riêng hoàn chỉnh, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ là một yêu cầu hết sức quan trọng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; nhằm thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Trương Quang Sáng

Các tin khác