Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 1

  • Hôm nay 1186

  • Tổng 9.210.350

Một số quy định pháp luật mới có hiệu lực trong tháng 7 và 8/2017

11:33, Thứ Hai, 28-8-2017

Xem với cỡ chữ : A- A A+

Hình thức đấu giá trực tuyến được áp dụng từ ngày 01/7/2017
Ngày 16/05/2017, Chính phủ  đã ban hành Nghị định số 62/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật đấu giá tài sản về cấp, thu hồi Thẻ đấu giá viên; hình thức đấu giá trực tuyến; đăng ký hoạt động đối với doanh nghiệp đấu giá tài sản thành lập trước ngày Luật đấu giá tài sản có hiệu lực thi hành. Theo đó, đấu giá trực tuyến phải được thực hiện theo nguyên tắc tuân thủ quy định của pháp luật về đấu giá tài sản; bảo mật về tài khoản truy cập, thông tin về người tham gia đấu giá và các thông tin khác theo quy định của của pháp luật; bảo đảm tính khách quan, minh bạch, an toàn, an ninh mạng; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có tài sản, người tham gia đấu giá và cá nhân, tổ chức có liên quan. Tổ chức đấu giá tài sản sử dụng Trang thông tin điện tử đấu giá trực tuyến của tổ chức mình hoặc ký hợp đồng với tổ chức đấu giá tài sản khác có Trang thông tin điện tử đấu giá trực tuyến để tổ chức cuộc đấu giá bằng hình thức đấu giá trực tuyến.Trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện hoặc trường hợp tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng tự đấu giá thì Hội đồng đấu giá tài sản, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng ký hợp đồng với tổ chức đấu giá tài sản có Trang thông tin điện tử đấu giá trực tuyến để tổ chức cuộc đấu giá.
Nghị định 62/2017/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2017 và thay thế Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/03/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản.
Quy định khung thù lao dịch vụ đu giá tài sản
Ngày 12 tháng 05 năm 2017 Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 45/2017/TT-BTC quy định khung thù lao dịch vụ đấu giá tài sản theo quy định tại Luật đấu giá tài sản. Đối tượng áp dụng của Thông tư này bao gồm: Người có tài sản đấu giá khi thực hiện đấu giá tài sản quy định của Luật đấu giá tài sản, trừ các trường hợp đấu giá tài sản do Hội đồng đấu giá tài sản được người có thẩm quyền thành lập thực hiện; Tổ chức đấu giá tài sản và tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến trường hợp đấu giá tài sảntheo quy định của Luật đấu giá tài sản. Theo Thông tư mức thù lao tối thiểu: 1.000.000 đồng/01 Hợp đồng; Mức thù lao tối đa tương ứng từng khung giá trị tài sản theo giá khởi điểm được quy định nhưng không vượt quá 300.000.000 đồng/01 Hợp đồng (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng).
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2017 và thay thế Thông tư số 335/2016/TT-BTC ngày 27 tháng 12 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí đấu giá tài sản, phí tham gia đấu giá tài sản; bãi bỏ Điều 13 Thông tư số 48/2012/TT-BTC ngày 16 tháng 3 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn việc xác định giá khởi điểm và chế độ tài chính trong hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất.
Chế độ tài chính mới trong hoạt động đấu giá tài sản.
Ngày 15 tháng 05 năm 2017 Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 48/2017/TT-BTC quy định chế độ tài chính trong hoạt động đấu giá tài sản, bao gồm
đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai và tài sản khác theo quy định của Luật Đấu giá tài sản. Theo quy định của Thông tư, trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân, thì tùy theo giá trị quyền sử dụng đất theo giá khởi điểm, mức thu từ 100 ngàn đến 500 ngàn đồng/hồ sơ. Các trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất không thuộc phạm vi trên thì tùy theo diện tích đất mức thu từ 1 triệu đến 3 triệu đồng/hồ sơ. Tổ chức đấu giá tài sản hoặc Hội đồng đấu giá quyền sử dụng đất( nếu cuộc đấu giá do Hội đồng) thực hiện có trách nhiệm thu tiền mua hồ sơ và khoản này được tính trừ vào số tiền thù lao dịch vụ đấu giá. Phần còn lại (nếu có) được chuyển về cơ quan được giao xử lý việc đấu giá quyền sử dụng đất để thanh toán cho các nội dung chi còn lại theo quy định; nếu còn thừa được nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Trường hợp không đủ chi trả tiền thù lao dịch vụ đấu giá, phần còn thiếu được sử dụng từ tiền đặt trước quy định và dự toán của cơ quan được giao xử lý việc đấu giá quyền sử dụng đất để chi trả.
Đối với đấu giá tài sản khác, Thông tư quy định nguồn kinh phí đảm bảo cho hoạt động đấu giá tài sản là tiền thu được từ việc đấu giá tài sản, tiền bán hồ sơ cho người tham gia đấu giá tài sản( tùy theo giá khởi điểm của tài sản, mức thu từ 50 nghìn đồng đến 500 nghìn đồng/hồ sơ). Thông tư cũng đã quy định nội dung chi, mức chi, việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán chi phí đấu giá; Quản lý, sử dụng khoản tiền đặt trước của người tham gia đấu giá; quy định việc nộp tiền thu được từ đấu giá tài sản.
Thông tư  có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2017
Quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng.
Ngày 06 tháng 6 năm 2017 Chính phủ ban hành Nghị định số 70/2017/NĐ-CP quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Theo đó, mức chuẩn để xác định các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng theo quy định tại Nghị định này là 1.417.000 đồng. Người hoạt động cách mạng trước ngày 1/1/1945 diện thoát ly mức trợ cấp 1.583.000 đồng/tháng, phụ cấp 268.000/năm (thâm niên); diện không thoát ly mức trợ cấp 2.688.000 đồng/tháng. Trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của người hoạt động cách mạng trước ngày 1/1/1945 từ trần 1.417.000 đồng/tháng. Người hoạt động cách mạng từ ngày 1/1/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 được trợ cấp 1.465.000 đồng/tháng. Trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của người hoạt động cách mạng từ ngày 1/1/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 từ trần là 795.000 đồng/tháng. Trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của 1 liệt sĩ là 1.417.000 đồng/tháng; trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của 2 liệt sĩ là 2.834.000 đồng/tháng; đối với thân nhân của 3 liệt sĩ trở lên, mức trợ cấp là 4.251.000 đồng/tháng; trợ cấp tiền tuất đối với vợ hoặc chồng liệt sỹ lấy chồng hoặc lấy vợ khác (diện không hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng) là 1.417.000 đồng/tháng). Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ, con từ đủ 18 tuổi trở lên sống cô đơn không nơi nương tựa hoặc con dưới 18 tuổi mồ côi cả cha mẹ đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng được hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng 1.133.000đồng/tháng. Bà mẹ Việt Nam anh hùng (hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng theo mức trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân liệt sĩ như trên) được hưởng phụ cấp 1.188.000 đồng/tháng. Mức trợ cấp đối với người phục vụ Bà mẹ Việt Nam Anh hùng sống ở gia đình là 1.417.000 đồng/tháng. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến hưởng trợ cấp 1.188.000 đồng/tháng. Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh được trợ cấp thương tật từ 955.000 đồng/tháng – 4.543.000 đồng/ tháng tùy tỷ lệ suy giảm khả năng lao động. Thương binh loại B được trợ cấp thương tật từ 788.000 đồng/tháng đến 3.759.000 đồng/tháng tùy tỷ lệ suy giảm khả năng lao động (tỉ lệ tương ứng từ 21% đến 100%).  Người có công giúp đỡ cách mạng được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước” và người có công giúp đỡ cách mạng trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước” được trợ cấp hàng tháng 1.417.000 đồng/tháng, trợ cấp nuôi dưỡng (hưởng thêm nếu đang sống cô đơn không nơi nương tựa) 1.133.000đồng/tháng. Người có công giúp đỡ cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến và người có công giúp đỡ cách mạng trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến được trợ cấp hàng tháng 833.000đồng/tháng. Trợ cấp nuôi dưỡng (hưởng thêm nếu đang sống cô đơn không nơi nương tựa) 1.133.000 đồng/tháng và các đối tượng khác được quy định cụ thể trong Nghị định.
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 7 năm 2017. Các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi quy định tại Nghị định này được thực hiện kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2017.
Quy định mới về quản lý, khai thác dữ liệu tài nguyên và môi trường
Chính phủ đã ban hành Nghị định 73/2017/NĐ-CP ngày 14/06/2017 về thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường. Nghị định gồm 8 chương, 33 điều và phụ lục ban hành kèm theo 5 loại biểu mẫu quy định việc thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng thông tin, dữ liệu về đất đai, tài nguyên nước, địa chất và khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu, đo đạc và bản đồ, viễn thám, tài nguyên môi trường biển và hải đảo (thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường); cơ chế phối hợp, kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường; trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường.
Theo Nghị định, việc thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường phải bảo đảm tính chính xác, trung thực, khoa học, khách quan và kế thừa;  lưu trữ, bảo quản đáp ứng yêu cầu sử dụng lâu dài, thuận tiện; tổ chức có hệ thống phục vụ thuận tiện khai thác và sử dụng, phát huy hiệu quả, tiết kiệm chung cho xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; được công bố công khai và được quyền tiếp cận theo quy định của Luật tiếp cận thông tin trừ các thông tin, dữ liệu thuộc về bí mật nhà nước và hạn chế sử dụng; phục vụ kịp thời công tác quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; sử dụng đúng mục đích, phải trích dẫn nguồn và tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, sở hữu trí tuệ.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 8 năm 2017 và thay thế Nghị định số 102/2008/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ về việc thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu tài nguyên và môi trường.
Hạn mức bảo hiểm tiền gửi được nâng lên 75 triệu đồng
Ngày 15 tháng 06 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 21/2017/QĐ-TTg Quyết định về hạn mức trả tiền bảo hiểm.  Đối tượng áp dụng là người được bảo hiểm tiền gửi; tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi; tổ chức bảo hiểm tiền gửi; cơ quan, tổ chức và cá nhân khác có liên quan đến hoạt động bảo hiểm tiền gửi. Theo đó, từ ngày 5/8/2018, số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm theo quy định của Luật bảo hiểm tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) của một cá nhân tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi tối đa là 75.000.000 đồng (quy định hiện hành tại Nghị định 109/2005/NĐ-CP là 50 triệu đồng)
Quy định về  điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân
Quyết định 24/2017/QĐ-TTg ngày 30/06/2017 của Thủ tướng Chính phủ quy định về cơ chế điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân có,  áp dụng đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động điện lực và sử dụng điện.
 Việc điều chỉnh giá bán điện bình quân dựa trên nguyên tắc: Hàng năm, sau khi kiểm tra giá thành sản xuất kinh doanh điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, giá bán điện bình quân được xem xét, điều chỉnh theo biến động khách quan thông số đầu vào của tất cả các khâu (phát điện, truyền tải điện, phân phối - bán lẻ điện, điều hành - quản lý ngành và dịch vụ phụ trợ hệ thống điện) so với thông số được sử dụng để xác định giá bán điện bình quân hiện hành. Thời gian điều chỉnh giá bán điện bình quân tối thiểu là 06 tháng kể từ lần điều chỉnh giá điện gần nhất. Tập đoàn Điện lực Việt Nam được điều chỉnh tăng hoặc giảm giá bán điện bình quân trong phạm vi khung giá do Thủ tướng Chính phủ quy định.Trường hợp giá bán điện bình quân tính toán cao hơn giá bán điện bình quân hiện hành từ 10% trở lên hoặc ngoài khung giá hoặc ảnh hưởng đến tình hình kinh tế vĩ mô, Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra, rà soát và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến mức điều chỉnh giá bán điện bình quân. Trường hợp cần thiết, Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Tài chính báo cáo Ban Chỉ đạo điều hành giá trước khi báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Việc điều chỉnh giá bán điện bình quân phải thực hiện công khai, minh bạch.
Quyết định  có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 8 năm 2017, thay thế Quyết định số 69/2013/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định cơ chế điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân.
Quy định việc tiếp nhận, giải quyết và trả lời kiến nghị của cử tri do Quốc hội chuyển đến
Ngày 25 tháng 07 năm 2017 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 33/2017/QĐ-TTg về Ban hành Quy chế tiếp nhận, giải quyết và trả lời kiến nghị của cử tri do Quốc hội chuyển đến. Quy chế đã quy định trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương  trong việc phối hợp, thực hiện việc tiếp nhận, giải quyết và trả lời kiến nghị của cử tri do Quốc hội chuyển đến. Theo nguyên tắc, kiến nghị của cử tri do Quốc hội chuyển đến phải được các bộ, cơ quan, địa phương tiếp nhận, giải quyết, trả lời theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, cơ quan, địa phương trong quá trình giải quyết. Việc tiếp nhận, giải quyết và trả lời kiến nghị của cử tri do Quốc hội chuyến đến là nhiệm vụ quan trọng trong chương trình công tác của các bộ, cơ quan, địa phương; là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu các bộ, cơ quan và chính quyền địa phương. Các bộ, cơ quan, địa phương tiếp nhận, giải quyết và trả lời kiến nghị phải bảo đảm dân chủ, khách quan, đầy đủ, đúng trọng tâm, báo cáo kết quả với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thường xuyên chủ động theo dõi, rà soát, tổng hợp, đánh giá kết quả giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri thuộc thẩm quyền giải quyết; báo cáo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan.
Danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 16/2017/TT-BGDĐT ngày 12/7/2017 hướng dẫn danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập. Thông tư đã quy định rõ danh mục khung vị trí việc làm trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập, bao gồm: Trường tiểu học; trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học, cấp trung học cơ sở, trường phổ thông dân tộc nội trú huyện, tỉnh; trường trung học cơ sở; trường trung học phổ thông; trường trung học phổ thông chuyên;  trường phổ thông có nhiều cấp học và trường, lớp dành cho người khuyết tật; trường dành cho người khuyết tật. Các cơ sở giáo dục phổ thông ngoài công lập có thể căn cứ vào các quy định tại thông tư này để áp dụng thực hiện.Quy định định mức số lượng người làm việc trong trường phổ thông cấp tiểu học, cấp trung học cơ sở , cấp trung học phổ thông; các vị trí việc làm kiêm nhiệm và lao động hợp đồng.
Thông tư  có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28 tháng 8 năm 2017  
Quy định mới về công khai ngân sách nhà nước
Ngày 15 tháng 6 năm 2017 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 61/2017/TT-BTC hướng dẫn về công khai ngân sách đối với đơn vị dự toán ngân sách, tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ; không bao gồm số liệu và báo cáo thuyết minh thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, dự trữ quốc gia. Việc công khai được thực hiện theo nguyên tắc: Công khai đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông tin ngân sách theo các hình thức Luật Ngân sách đã quy định. Đảm bảo yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định hiện hành. Nội dung công khai bao gồm:Công khai dự toán ngân sách; công khai số liệu và thuyết minh tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước (quý, 6 tháng, năm); công khai quyết toán ngân sách nhà nước.
Báo cáo công khai dự toán ngân sách nhà nước phải được thực hiện chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày được tổ chức cấp trên hoặc cấp có thẩm quyền giao đầu năm và điều chỉnh giảm hoặc bổ sung trong năm (nếu có). Báo cáo tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước hằng quý, 06 tháng phải được công khai chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày kết thúc quý và 06 tháng. Báo cáo tình hình thực hiện ngân sách nhà nước cả năm được công khai chậm nhất là 05 ngày làm việc, kể từ ngày đơn vị báo cáo tổ chức cấp trên trực tiếp. Báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước phải được công khai chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày được tổ chức cấp trên hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Thông tư  có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2017 và áp dụng từ năm ngân sách 2017 vâ bãi bỏ Thông tư số 21/2005/TT-BTC ngày 22/3/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính đối với các đơn vị dự toán ngân sách và các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ.
MH.

 

Các tin khác