Chi tiết tin - Sở Tư pháp
Giới thiệu một số văn bản Luật có hiệu lực trong tháng 01/2018
1. Luật Trợ giúp pháp lý
Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 sẽ mở ra một giai đoạn mới cho công tác TGPL với nhiều nội dung mới nổi bật. Luật TGPL được xây dựng xuất phát từ tinh thần lấy người được TGPL làm trung tâm nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL theo hướng chuyên nghiệp hóa, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước và xã hội nhằm cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý cho người yếu thế không có khả năng chi trả dịch vụ pháp lý và những người thuộc diện chính sách. Luật TGPL được bố cục thành 8 chương, 48 điều quy định về người được TGPL, tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL, hoạt động TGPL và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động TGPL. Luật đã khẳng định rõ nét hơn trách nhiệm của Nhà nước trong công tác TGPL vàcó sự phân biệt hoạt động này với dịch vụ pháp lý thiện nguyện của các tổ chức xã hội; mở rộng diện người được TGPL theo các nguyên tắc, tiêu chí cụ thể, phù hợp với bản chất của TGPL và điều kiện đặc thù của đất nước;bổ sung các quy định về trình tự thực hiện TGPL tạo điều kiện thuận lợi cho người được TGPL, nhất là việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong hoạt động tố tụng. Luật nâng cao vai trò của Sở Tư pháp thông qua việc ký hợp đồng với các tổ chức tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý. Có thể nói, vai trò của Sở Tư pháp trong việc giúp UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về TGPL ở địa phương được nâng lên rõ nét thông qua quy định giao cho Sở Tư pháp thẩm quyền lựa chọn ký hợp đồng thực hiện TGPL (khoản 1 và khoản 2 Điều 14). Thông qua việc quản lý, đánh giá hoạt động của Trung tâm TGPL nhà nước và nắm bắt yêu cầu TGPL tại địa phương quyết định việc lựa chọn, ký hợp đồng thực hiện TGPL với các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật có nguyện vọng, đáp ứng các điều kiện tối thiểu của Luật nhằm tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầu TGPL, tránh việc bỏ sót người được TGPL khi họ cần giúp đỡ pháp lý. Việc lựa chọn sẽ được thực hiện thông qua quy trình chặt chẽ, tạo tiền đề cho việc cung cấp dịch vụ pháp lý có chất lượng. Để thực hiện nhiệm vụ này, hàng năm Sở Tư pháp phải dự toán kinh phí để ký kết hợp đồng với các tổ chức xã hội thực hiện TGPL.Sắp xếp, tinh gọn các Chi nhánh của Trung tâm TGPL của Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, quy định chặt chẽ điều kiện thành lâp Chi nhánh.
2. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự
Ngày 20/6/2017, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 12/2017/QH14. Theo đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều khoản thuộc phần những quy định chung của BLHS số 100/2015/QH13 để bảo đảm sự nhất quán trong chính sách xử lý; bảo đảm tính bao quát, toàn diện và phù hợp hơn với thực tiễn, theo đó đã sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến người chưa thành niên phạm tội; sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tạo thuận lợi cho việc áp dụng trên thực tế; Luật sửa đổi, bổ sung yếu tố cấu thành của một số tội phạm để bảo đảm phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm; bỏ tội danh cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông, đồng thời bổ sung một tội danh mới – đó là tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp nhằm xử lý nghiêm các vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh theo phương thức đa cấp đang diễn biến hết sức phức tạp trong thời gian vừa qua, gây thiệt hại cho nhiều người, nhất là những người dân ở vùng nông thôn, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung theo hướng người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội đối với 2 tội danh là tội giết người và tội cướp tài sản. Bộ luật Hình sự bỏ tội danh cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông quy định tại Điều 292 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13; bổ sung một tội danh mới - đó là tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp (Điều 217a Bộ luật Hình sự) nhằm xử lý nghiêm các vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh theo phương thức đa cấp đang diễn biến hết sức phức tạp trong thời gian vừa qua, gây thiệt hại cho nhiều người, nhất là những người dân ở vùng nông thôn, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội.
3. Bộ luật Tố tụng hình sự
Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp, gồm: Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác; nguyên tắc suy đoán vô tội; không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm… Bộ luật Tố tụng hình sự quy định các biện pháp chống bức cung, nhục hình; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát hoạt động tố tụng hình sự. Bắt buộc phải ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh khi hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Luật cũng quy định trách nhiệm của cơ quan tố tụng cấp trên phải kiểm tra hoạt động tố tụng của cơ quan cấp dưới, bổ sung cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan tố tụng.
4. Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam
Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam gồm có 11 chương, 73 điều, có hiệu lực vào ngày 01/01/2018 đã làm rõ hơn khái niệm người bị tạm giữ, tạm giam so với quy định trong Quy chế về tạm giữ, tạm giam. Luật quy định “Người bị tạm giữ là người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự”, “Người bị tạm giam là người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giam, gia hạn tạm giam theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bao gồm bị can; bị cáo; người bị kết án phạt tù, người bị kết án tử hình mà bản án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đang chờ thi hành án; người bị tạm giam để thực hiện việc dẫn độ”.Tại Điều 9 Luật đã quy định cụ thể về những quyền cơ bản nhất của người bị tạm giữ, người bị tạm giam, còn một số quyền khác được quy định mang tính nguyên tắc được thực hiện nếu không bị hạn chế bởi Luật này hoặc các Luật khác có liên quan; trong đó đã bổ sung một số quyền quan trọng cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Bên cạnh đó, Luật quy định một chương riêng (Chương V) về chế độ quản lý đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi ở cùng, về quyền được chăm sóc y tế của người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Luật quy định cụ thể hơn về hệ thống tổ chức cơ quan quản lý; cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam với cơ quan điều tra. Theo đó, hệ thống cơ quan quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam đã tách bạch (tương đối) với cơ quan điều tra, nhất là trong Công an nhân dân, nhằm bảo đảm tính độc lập của hoạt động quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam với hoạt động điều tra và tránh bức cung, nhục hình. Quy định rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam. Đặc biệt, Luật đề cao trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết khiếu nại trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam. Ngoài ra, Luật còn quy định về kỷ luật đối với người bị tạm giữ, tạm giam có nhiều điểm mới so với quy định trước đây.
5. Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự
Luật ra đời nhằm tinh gọn đầu mối theo hướng không quy định Trại tạm giam, Cảnh sát hỗ trợ tư pháp, Cảnh sát quản lý hành chính là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Điều 3 của Luật đã quy định rõ ràng và đầy đủ hơn các nguyên tắc tổ chức điều tra hình sự; theo đó, tổ chức điều tra hình sự phải bảo đảm 04 nguyên tắc sau: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm sự chỉ đạo, chỉ huy tập trung thống nhất, hiệu lực, hiệu quả; phân công, phân cấp rành mạch, chuyên sâu và được kiểm soát chặt chẽ; cơ quan điều tra cấp dưới chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ của Cơ quan điều tra cấp trên; cá nhân chịu trách nhiệm trước cấp trên và trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình; chỉ cơ quan, người có thẩm quyền quy định trong Luật này mới được tiến hành hoạt động điều tra hình sự. Đây là những tư tưởng chỉ đạo, có tính xuyên suốt mà các Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải tuân thủ trong quá trình tổ chức điều tra hình sự. Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã bổ sung 01 điều luật mới (Điều 14) quy định về các hành vi bị nghiêm cấm như: Làm sai lệch hồ sơ vụ án; làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm; can thiệp trái pháp luật vào việc điều tra vụ án hình sự; bức cung, dùng nhục hình; xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; cản trở quyền được bào chữa của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can; quyền khiếu nại, tố cáo của người khác; cản trở người bào chữa, người thực hiện trợ giúp pháp lý thực hiện việc bào chữa, trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Luật cũng bổ sung quy định về Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (cấp Bộ), Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm công nghệ cao (cấp tỉnh); thời hạn điều tra đối với tội phạm quả tang, ít nghiêm trọng, chứng cứ rõ ràng do Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, hải quan, Kiểm lâm, Kiểm ngư điều tra theo thẩm quyền từ 20 ngày thành một tháng để đảm bảo tính khả thi.
6. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016 gồm có 09 chương với 68 điều, trong đó quy định Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo; đồng thời, sẽ bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Một nội dung đáng chú ý khác là quy định về đăng ký hoạt động tín ngưỡng. Theo đó, hoạt động tín ngưỡng của cơ sở tín ngưỡng phải được đăng ký, trừ cơ sở tín ngưỡng là nhà thờ dòng họ. Người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng phải gửi văn bản đăng ký đến UBND cấp xã nơi có cơ sở tín ngưỡng chậm nhất là 30 ngày trước ngày bắt đầu hoạt động tín ngưỡng. Trường hợp hoạt động tín ngưỡng không có trong văn bản đã được đăng ký thì người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng thực hiện đăng ký bổ sung chậm nhất 20 ngày trước ngày diễn ra hoạt động tín ngưỡng. Luật quy định, từ ngày 01/01/2018, tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo chỉ được công nhận là tổ chức tôn giáo khi đã hoạt động ổn định, liên tục từ đủ 05 năm trở lên kể từ ngày được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; có hiến chương theo quy định; có cơ cấu tổ chức theo hiến chương; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình… Đặc biệt, chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày 01/01/2018, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động trước ngày 01/01/2018 phải thông báo danh mục hoạt động tôn giáo diễn ra hàng năm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
7. Luật Quản lý ngoại thương
Luật Quản lý ngoại thương có 8 chương 113 Điều. Theo đó, hàng hóa thuộc một trong các trường hợp sau thì bị áp dụng biện pháp cấm nhập khẩu: Liên quan đến quốc phòng, an ninh chưa được phép nhập khẩu của cơ quan nhà nước; gây nguy hại đến sức khỏe, an toàn của người tiêu dùng; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục; gây nguy hại đến môi trường, đa dạng sinh học, có nguy cơ cao mang theo sinh vật gây hại, đe dọa an ninh lương thực, nền sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Biện pháp tạm ngừng xuất khẩu là biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định không được đưa hàng hóa từ nội địa vào khu vực hải quan riêng hoặc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam trong một khoảng thời gian nhất định; tạm ngừng nhập khẩu là biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định không được đưa hàng hóa từ khu vực hải quan riêng vào nội địa hoặc từ nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam trong một khoảng thời gian nhất định.Đối với biện pháp hạn ngạch xuất khẩulà biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định áp dụng để hạn chế số lượng, khối lượng, trị giá của hàng hóa xuất khẩu ra khỏi lãnh thổ Việt Nam; hạn ngạch nhập khẩu là biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định áp dụng để hạn chế số lượng, khối lượng, trị giá của hàng hóa nhập khẩu vào lãnh thổ Việt Nam. Đối với biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam (sau đây gọi là biện pháp chống bán phá giá) là biện pháp được áp dụng trong trường hợp hàng hóa được xác định bị bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam gây ra thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể của ngành sản xuất trong nước hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước. Hàng hóa được xác định bị bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam với giá thấp hơn giá thông thường là giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự bán tại nước xuất khẩu hoặc tại một nước thứ ba trong các điều kiện thương mại thông thường hoặc mức giá mà Cơ quan điều tra xác định bằng phương pháp tự tính toán.
8. Luật Du lịch
Luật Du lịch (sửa đổi) bổ sung thêm điều kiện đảm bảo quy chuẩn đối với loại cơ sở lưu trú du lịch do Bộ trưởng Văn hóa - Thể thao và Du lịch ban hành. Quy chuẩn này sẽ quy định những điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất kỹ thuật và người lao động đối với từng loại cơ sở lưu trú du lịch nhằm bảo vệ quyền lợi của khách du lịch, đảm bảo chất lượng dịch vụ lưu trú. Việc xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện. Theo đó, các tổ chức, cá nhân kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch được tự nguyện đăng ký xếp hạng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hạng cơ sở lưu trú du lịch bao gồm 1 sao, 2 sao, 3 sao, 4 sao và 5 sao. Tổng cục Du lịch thẩm định, công nhận cơ sở lưu trú du lịch hạng 4 sao và hạng 5 sao. Cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh thẩm định, công nhận cơ sở lưu trú du lịch hạng 1 sao, hạng 2 sao và hạng 3 sao. Đối với “Phí thẩm định, phân hạng cơ sở lưu trú du lịch, cơ sở kinh doanh dịch vụ đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch” sửa thành “Phí thẩm định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch, cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch”; “phí thẩm định và cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế” sửa thành “Phí thẩm định cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế, Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa”.Cũng theo Luật Du lịch 2017, đối với hướng dẫn viên du lịch quốc tế, hướng dẫn viên du lịch nội địa đã được cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch trước ngày 01/01/2018 được tiếp tục hành nghề cho đến hết thời hạn ghi trên thẻ.
9. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2017 gồm 4 chương 35 điều. Luật quy định về nguyên tắc, nội dung, nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Luật quy định rõ nguyên tắc việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phải tôn trọng quy luật thị trường, phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Bảo đảm công khai, minh bạch về nội dung, đối tượng, trình tự, thủ tục, nguồn lực, mức hỗ trợ và kết quả thực hiện. Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có trọng tâm, có thời hạn, phù hợp với mục tiêu hỗ trợ và khả năng cân đối nguồn lực. Việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nguồn lực ngoài Nhà nước do các tổ chức, cá nhân tài trợ được thực hiện theo quy định của tổ chức, cá nhân đó nhưng không được trái quy định của pháp luật… Luật quy định rõ về các hành vi bị nghiêm cấm trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cụ thể là hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa không đúng nguyên tắc, đối tượng, thẩm quyền, nội dung, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Phân biệt đối xử, gây chậm trễ, phiền hà, cản trở, sách nhiễu đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, các tổ chức, cá nhân hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cố ý báo cáo, cung cấp thông tin giả mạo, không trung thực liên quan đến hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Sử dụng nguồn lực hỗ trợ không đúng mục đích đã cam kết…
Phòng QLXL VPHC & TDTHPL
- Một số chính sách mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 (03/01/2018)
- Một số quy định pháp luật mới có hiệu lực trong tháng 12/2017 (05/12/2017)
- Danh sách các văn bản có hiệu lực từ tháng 12/2017 (04/12/2017)
- Một số chính sách mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/11/2017 (08/11/2017)
- Một số chính sách mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2017 (02/10/2017)
- Danh sách văn bản có hiệu lực từ tháng 9/2017 (05/09/2017)
- Một số quy định pháp luật mới có hiệu lực trong tháng 7 và 8/2017 (28/08/2017)
- Một số điểm mới cơ bản của Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) (28/08/2017)
- Một số chính sách mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2017 (04/08/2017)
- Một số nội dung cơ bản của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (04/08/2017)









