Chi tiết tin - Sở Tư pháp
Một số giải pháp để nâng cao chất lượng công tác soạn thảo, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật và công tác kiểm soát TTHC trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Giai đoạn 2011-2015 là giai đoạn cải cách mạnh mẽ về thể chế, bỏ bớt thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản QPPL của một số chủ thể, thực hiện một văn bản sửa nhiều văn bản theo Luật Ban hành văn bản QPPL, Luật Ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND. Đồng thời cũng là giai đoạn tiếp tục thực hiện chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
Công tác soạn thảo, góp ý, thẩm định, ban hành, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL ở tỉnh ta ngày càng đi vào nền nếp, ngày càng chủ động hơn, đều căn cứ Nghị quyết về chương trình ban hành Nghị quyết của HĐND và chương trình ban hành văn bản QPPL của UBND. Việc lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan, các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; việc gửi hồ sơ đề nghị cơ quan Tư pháp thẩm định; việc tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến tham gia, ý kiến thẩm định, việc xin ý kiến đối với những vấn đề phức tạp có ý kiến khác nhau đã được cơ quan chủ trì soạn thảo thực hiện ngày càng nghiêm túc. Quá trình thẩm định, Sở Tư pháp đã phối hợp chặt chẽ với các Ban của HĐND. Chất lượng công tác soạn thảo, thẩm định, ban hành văn bản QPPL ngày càng được nâng cao. Các văn bản được ban hành cơ bản đảm bảo hợp hiến, hợp pháp, thống nhất đồng bộ; đã kịp thời thể chế hoá nghị quyết, chủ trương của Đảng, nhất là các Nghị quyết, các chương trình của Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2010-2015; cụ thể hoá các văn bản QPPL của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương; phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, cơ bản đáp ứng và thể hiện yêu cầu, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân; đảm bảo thực hiện quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật.
Công tác kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn đã được triển khai đồng bộ, theo một phương pháp chung, thống nhất và cơ bản đi vào nền nếp. Các cơ quan, đơn vị, địa phương đã tăng cường trách nhiệm giải trình, tăng cường kiểm soát quy trình tiếp nhận, giải quyết hồ sơ. Tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan giải quyết TTHC không ngừng được cải thiện. Hiện tượng gây phiền hà cho đối tượng thực hiện TTHC đã giảm rõ rệt qua từng năm. Từ chỗ trước năm 2011, có những cơ quan, đơn vị có số lượng hồ sơ giải quyết quá hạn trên 90% thì đến năm 2015, phần lớn các hồ sơ TTHC đã được giải quyết kịp thời theo thời gian quy định, trừ những trường hợp có lý do chính đáng. Từ năm 2011 - 2015, UBND tỉnh công bố 2.110 TTHC, đến nay tổng số TTHC được công bố đang có hiệu lực thi hành trên địa bàn tỉnh là 1.557 thủ tục (cấp tỉnh có 1.201, cấp huyện có 199, cấp xã có 157).
Trong giai đoạn tới, nhất là trong năm 2016, Luật Ban hành Văn bản QPPL năm 2015(hợp nhất) và nhiều Luật khác có liên quan có hiệu lực thi hành. Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 có nhiều điểm mới, như: đã giảm được 05 loại văn bản QPPL, trong đó có Chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp. Luật cũng quy định rõ việc cấm quy định thủ tục hành chính trong Thông tư, Thông tư liên tịch của các Bộ, liên bộ, Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Quyết định của Ủy ban nhân dân; trừ trường hợp được giao trong luật. Đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL. Tách bạch quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo văn bản QPPL, trong đó tập trung quy định về quy trình xây dựng chính sách. Bổ sung nhiều quy định mới về việc tổ chức lấy ý kiến nhằm mở rộng dân chủ, tăng cường công khai, minh bạch trong xây dựng văn bản QPPL; tạo điều kiện thuận lợi cho Nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng văn bản QPPL và nhiều điểm mới quan trọng khác. Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014 và theo Luật Ban hành văn bản 2015, từ 01/7/2016 thì 3299 điều kiện kinh doanh được quy định tại 170 Thông tư, Quyết định của các Bộ đương nhiên hết hiệu lực thi hành. Là giai đoạn tiếp tục triển khai Đề án Tổng thể đơn giản hóa TTHC, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư giai đoạn 2013-2020. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 19 và Nghị quyết 43 của Chính phủ và Quyết định 08, chỉ thị 13 của Thủ tướng Chính phủ; thực hiện Đề án Thiết lập hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính và tình hình, kết quả giải quyết TTHC tại các cấp chính quyền và Đề án thực hiện liên thông các thủ tục hành chính: Đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và nhiều nhiệm vụ được quy định tại các văn bản khác. Vì vậy, khối lượng công việc phải thực hiện rất lớn. Để nâng cao hơn nữa chất lượng thẩm định văn bản QPPL và công tác KSTTHC, xin nêu một số giải pháp và đề xuất, kiến nghị sau:
Thứ nhất, cần tăng cường hơn nữa sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp trong công tác xây dựng, thi hành pháp luật và kiểm soát thủ tục hành chính. Nâng cao hơn nữa nhận thức về sự cần thiết và sự khó khăn, thách thức về cải cách TTHC. Xác định việc thay đổi thói quen, cách làm cũ là một công việc khó khăn, lâu dài, cần phải chỉ đạo quyết liệt, thường xuyên và quyết tâm thực hiện.
Thứ hai, xác định nhiệm vụ KSTTHC phải được thực hiện thường xuyên, chủ yếu, trực tiếp và trước hết đó là những công chức, viên chức đang thực thi công vụ và thực hiện dịch vụ công, thông qua việc giải quyết hồ sơ TTHC cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp. Sự sáng tạo, sáng kiến của công chức, viên chức chính là việc thường xuyên phát hiện và đề nghị cải tiến, bớt bỏ những thủ tục hành chính không cần thiết, rườm rà nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu của quản lý nhà nước.
Thứ ba, tăng cường năng lực; tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan soạn thảo, thẩm định dự thảo văn bản QPPL, cán bộ đầu mối KSTTHC trong việc khảo sát, học tập kinh nghiệm; bảo đảm cung cấp đầy đủ thông tin và tạo điều kiện về cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, kinh phí cho hoạt động xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát TTHC .Coi trọng việc lấy ý kiến của nhân dân, của đối tượng chịu sự tác động khi xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Phát huy dân chủ, xây dựng và thực hiện cơ chế phù hợp nhằm thu hút rộng rãi các chuyên gia, người có kinh nghiệm, mọi tầng lớp nhân dân và doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng văn bản;
Thứ tư, cần thực hiện nghiêm túc quy trình soạn thảo, góp ý, thẩm định và ban hành văn bản QPPL. Dự báo tác động kinh tế - xã hội; dự kiến nguồn lực bảo đảm cho việc tổ chức thi hành sau khi văn bản hoặc TTHC được ban hành; bám sát chương trình, kế hoạch hàng năm của UBND tỉnh để chủ động tham mưu đảm bảo tiến độ quy định. Quá trình thực hiện cần chủ động phối hợp với Sở Tư pháp ngay từ quá trình dự thảo; đối với những vấn đề còn có ý kiến khác nhau giữa cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm định, góp ý thì sẽ được bàn bạc, trao đổi, làm rõ ngay từ khi dự thảo. Tăng cường phối hợp với các Ban của HĐND và UBMTTQ Việt Nam các cấp; phát huy vai trò phản biện xã hội và trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý trong việc dự thảo văn bản QPPL và đánh giá hiệu quả thực thi.
Thứ năm, tổ chức rà soát, đánh giá sự cần thiết, tính hợp pháp, hợp lý và hiệu quả của các TTHC, xác định chi phí tuân thủ TTHC trong phạm vi quản lý hoặc thực hiện của đơn vị, địa phương mình. Đề xuất sáng kiến cải cách TTHC; tăng cường trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong giải quyết TTHC; xây dựng quy trình giải quyết TTHC nội bộ, bảo đảm nhanh, khoa học, thuận tiện, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục cho cá nhân, tổ chức; đề xuất phân cấp thực hiện (hiện nay còn nhiều thủ tục do cấp bộ hoặc cấp tỉnh thực hiện); đề xuất tăng thời hạn có hiệu lực của thủ tục để giảm tần suất thực hiện; đề xuất giảm hành chính hóa các quan hệ dân sự, kinh tế.
Thứ sáu, thực hiện nghiêm túc việc công bố, công khai, minh bạch TTHC. Tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện kiểm soát TTHC tại các cơ quan, đơn vị trực thuộc. Xử lý kịp thời các kiến nghị, đề xuất về đơn giản hóa quy định hành chính, TTHC. Khắc phục tình trạng chậm công bố, công khai, niêm yết TTHC hoặc thiếu trách nhiệm, chậm trễ, gây phiền hà trong giải quyết TTHC. Thực hiện việc xin lỗi cá nhân, tổ chức theo quy định tại Quy định của Thủ tướng Chính phủ. Định kỳ 6 tháng tổ chức đối thoại với cá nhân, tổ chức về TTHC, giải quyết TTHC. Phát hiện những mô hình mới, cách làm hay trong cải cách TTHC đề xuất triển khai nhân rộng.
Thứ bảy, triển khai đồng bộ, thống nhất, có cơ chế kiểm tra, giám sát đảm bảo vận hành cơ chế một cửa, một cửa liên thông thông suốt, thuận lợi. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan hành chính nhà nước các cấp, nhất là trong giải quyết TTHC cho cá nhân. Tăng cấp độ thực hiện TTHC lên cấp độ 3 và 4. Thực hiện thường xuyên việc kiểm tra, định kỳ sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện kiểm soát TTHC, kịp thời biểu dương khen thưởng những cá nhân, tổ chức triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ.
Luật gia Minh Hương
Các tin khác
- Sự khác nhau về giá trị pháp lý của hợp đồng, giao dịch được chứng thực và hợp đồng, giao dịch được công chứng (11/12/2015)
- Quyền tự do biểu đạt trong Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (11/12/2015)
- Cần tiếp tục nâng cao năng lực của đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã trên địa bàn (11/12/2015)
- Một số vấn đề cần trao đổi về quy định điều kiện của chủ thể tham đấu giá quyền sử dụng đất (07/07/2015)
- Một số điểm mới cơ bản của Luật Hộ tịch năm 2014 (27/03/2015)









