Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 1

  • Hôm nay 955

  • Tổng 9.211.347

Một số quy định về thành lập và đăng ký doanh nghiệp

13:59, Thứ Năm, 16-2-2017

Xem với cỡ chữ : A- A A+
Luật Doanh nghiệp năm 2014 (gọi tắt Luật) được ban hành với mục tiêu tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm tạo ra những đột phá mới, góp phần cải cách thể chế kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư, kinh doanh, phát huy nội lực trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài; tạo thuận lợi hơn, giảm chi phí, tạo cơ chế vận hành linh hoạt, hiệu quả cho tổ chức quản trị doanh nghiệp (DN), cơ cấu lại DN; bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, cổ đông, thành viên của DN; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với DN.

             Điều 4 Luật đã quy định DN là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. DN nhà nước là DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. DN Việt Nam là DN được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính tại Việt Nam. Như vậy, DN với tư cách là tổ chức kinh tế có những đặc điểm riêng và được nhận biết qua các dấu hiệu cơ bản: (i) DN phải có tên riêng. Tên của DN là dấu hiệu đầu tiên xác định tư cách chủ thể độc lập của DN, là cơ sở để Nhà nước thực hiện quản lý nhà nước đối với DN và là cơ sở phân biệt chủ thể trong quan hệ giữa các DN với nhau và với người tiêu dùng. Tên DN phải được gắn tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của DN; phải được in hoặc viết trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm do DN phát hành. (ii) DN phải có tài sản. Mục đích thành lập của DN là kinh doanh, do đó tài sản là điều kiện hoạt động của DN. (iii) DN phải có trụ sở chính. Trụ sở chính của DN là địa điểm liên lạc của DN, có địa chỉ được xác định; số điện thoại, số fax và thư điện tử (nếu có). DN thành lập và hoạt động phải đăng ký một địa chỉ giao dịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Các DN có trụ sở chính tại Việt Nam, được đăng ký thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam. (iv) DN phải thực hiện thủ tục thành lập theo quy định của pháp luật. Mọi DN, kinh doanh ở bất kì lĩnh vực nào đều phải được một cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép. (v) Mục tiêu thành lập DN là trực tiếp thực hiện các hoạt động kinh doanh.
              Luật đã quy định trình tự thủ tục thành lập và đăng ký DN. Với yêu cầu của nguyên tắc tự do kinh doanh, thành lập DN được coi là quyền cơ bản của nhà đầu tư. Việc thành lập DN phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật. Các quy định về thành lập DN nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư, nhưng phải đáp ứng yêu cầu của quản lý nhà nước đối với DN, gồm những nội dung cơ bản sau:
              Một là, đối tượng có quyền thành lập doanh nghiệp
              Điều 18 Luật quy định các tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý DN tại Việt Nam trừ trường hợp sau:
             - Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập DN kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
             - Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;
             - Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại DN;
             - Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong DN nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại DN khác;
             - Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
             - Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng.
            Tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật, trừ trường hợp: Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào DN để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; các đối tượng không được góp vốn vào DN theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
             Hai là, đăng ký doanh nghiệp
             Đăng ký DN là việc người thành lập DN đăng ký thông tin về DN dự kiến thành lập, DN đăng ký những thay đổi hoặc dự kiến thay đổi trong thông tin về đăng ký DN với cơ quan đăng ký kinh doanh và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký DN. Đăng ký DN bao gồm đăng ký thành lập DN, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký DN và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng kí doanh nghiệp.
              Trình tự, thủ tục đăng ký DN được quy định tại Điều 27 Luật như sau:
              - Người thành lập DN hoặc người được ủy quyền gửi hồ sơ đăng ký DN theo quy định Luật DN cho Cơ quan đăng ký kinh doanh;
              - Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký DN và cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ. Trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN thì phải thông báo bằng văn bản cho người thành lập DN biết. Thông báo phải nêu rõ lý do và các yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ. Thời gian thành lập DN đã được rút ngắn từ 10 ngày theo Luật DN 2005 xuống còn 03 ngày theo Luật DN 2014.
            DN được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN khi có đủ các điều kiện sau đây: Ngành, nghề đăng ký kinh doanh không bị cấm đầu tư kinh doanh; tên của DN được đặt theo đúng quy định tại các Điều 38, 39, 40, 42 của Luật; có hồ sơ đăng ký DN hợp lệ; nộp đủ lệ phí đăng ký DN theo quy định pháp luật về phí và lệ phí.
            Trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký DN bị mất, bị hủy hoại, bị hư hỏng hoặc bị tiêu hủy dưới hình thức khác, DN được cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký DN và phải trả lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.
            Đăng kí DN qua mạng điện tử được thực hiện như sau: Tổ chức, cá nhân có thể lựa chọn hình thức đăng ký DN qua mạng điện tử. Phòng Đăng ký kinh doanh tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tìm hiểu thông tin, thực hiện đăng ký DN qua mạng điện tử.Tổ chức, cá nhân lựa chọn sử dụng chữ ký số công cộng hoặc sử dụng Tài khoản đăng ký kinh doanh để đăng ký DN qua mạng điện tử.
            Hồ sơ đăng ký DN qua mạng điện tử có giá trị pháp lý như hồ sơ nộp bằng bản giấy. Hồ sơ đăng ký DN qua mạng điện tử là hợp lệ khi đảm bảo đầy đủ các yêu cầu theo quy định tại Điều 36 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP.
            Ba là, tài sản góp vốn và định giá tài sản góp vốn
            Tài sản góp vốn:Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam.
             Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn.
            Định giá tài sản góp vốn:Tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam.
            Định giá tài sản góp vốn khi thành lập DN: Tài sản góp vốn khi thành lập DN phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được đa số các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận.
            Trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.
            Định giá tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động: Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do chủ sở hữu, Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và DN chấp thuận.
            Trường hợp nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn, chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.
            Bốn là, chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn
            Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty như sau:
            - Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ;
            - Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản.
            Biên bản giao nhận phải ghi rõ tên và địa chỉ trụ sở chính của công ty; họ, tên, địa chỉ thường trú, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác, số quyết định thành lập hoặc đăng ký của người góp vốn; loại tài sản và số đơn vị tài sản góp vốn; tổng giá trị tài sản góp vốn và tỷ lệ của tổng giá trị tài sản đó trong vốn điều lệ của công ty; ngày giao nhận; chữ ký của người góp vốn hoặc đại diện theo ủy quyền của người góp vốn và người đại diện theo pháp luật của công ty.
            - Cổ phần hoặc phần vốn góp bằng tài sản không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty.
             Tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của chủ DN tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho DN.
             Năm là, công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp
             DN sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN phải thông báo công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký DN theo quy định. Nội dung công bố bao gồm các nội dung Giấy chứng nhận đăng ký DN và các thông tin về: Ngành, nghề kinh doanh; danh sách cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài đối với công ty cổ phần. Trường hợp thay đổi nội dung đăng ký DN, những thay đổi tương ứng phải được thông báo công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký DN trong thời hạn theo quy định của pháp luật.
Thời hạn thông báo công khai các thông tin về doanh nghiệp quy định tại là 30 ngày, kể từ ngày được công khai.

Tuyết Hà

 

Các tin khác