Chi tiết tin - Sở Tư pháp
Tìm hiểu một số quy định của Bộ Luật Dân sự về giao dịch Dân sự
Về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự: Chủ thể có năng lực pháp luật (NLPL) dân sự, năng lực hành vi dân sự (NLHVDS) phù hợp với giao dịch dân sự (GDDS) được xác lập; chủ thể tham gia GDDS hoàn toàn tự nguyện và mục đích và nội dung của GDDS không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Về giao dịch dân sự vô hiệu: Bộ luật dân sự (BLDS) 2015 đã bổ sung thêm điều khoản loại trừ: GDDS không có một trong các điều kiện có hiệu lực đã nêu trên thì vô hiệu, trừ trường hợp BLDS 2015 có quy định khác.
Về giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện: BLDS 2015 quy định cụ thể hơn trước, đồng thời, bổ sung điều khoản loại trừ các GDDS không bị xem là vô hiệu: Khi GDDS do người chưa thành niên, người mất NLHVDS, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế NLHVDS xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp sau: GDDS của người chưa đủ 06 tuổi, người mất NLHVDS nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó; GDDS chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất NLHVDS, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế NLHVDS với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ; GDDS được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục NLHVDS.
Về giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn: BLDS 2015 quy định lại nội dung GDDS vô hiệu do bị nhầm lẫn: Trường hợp GDDS được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố GDDS vô hiệu, trừ trường hợp các bên đạt được mục đích GDDS; GDDS được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập GDDS của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập GDDS vẫn đạt được.
Về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức: BLDS 2015 quy định điều khoản loại trừ không bị xem là vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức là: GDDS đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó; GDDS đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.
Về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu: BLDS 2015 thêm các quy định sau: “Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.” trong nghĩa vụ khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Và bổ sung quy định sau: Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó; việc giải quyết hậu quả của GDDS vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do BLDS 2015, luật khác có liên quan quy định.
Về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu: BLDS 2015 quy định cụ thể mốc thời điểm để xác định thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố GDDS vô hiệu: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố GDDS vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện; bị nhầm lẫn; người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; không tuân thủ quy định về hình thức là 02 năm, kể từ ngày:
+ Người đại diện của người chưa thành niên, người mất NLHVDS, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế NLHVDS biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch.
+ Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối.
+ Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép.
+ Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch.
+ GDDS được xác lập trong trường hợp GDDS không tuân thủ quy định về hình thức.
Hết thời hiệu quy định trên mà không có yêu cầu tuyên bố GDDS vô hiệu thì GDDS có hiệu lực.
So với BLDS 2005, quy định bảo vệ quyền lợi của người thứ 3 ngay tình khi GDDS vô hiệu được mở rộng hơn đó là:
- Trường hợp GDDS vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ 3 ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định về quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình.
- Trường hợp GDDS vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một GDDS khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì GDDS với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.
- Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu GDDS với người này không bị vô hiệu theo quy định vừa nêu trên nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.
Luật gia: Trần Lê
- Quyền tự do biểu đạt và tư do thông tin trong Công ước về các quyền dân sự và chính trị (02/03/2017)
- Tìm hiểu các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về Nghĩa vụ (23/02/2017)
- Một số quy định về thành lập và đăng ký doanh nghiệp (16/02/2017)
- Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả (14/02/2017)
- Tìm hiểu Luật Báo chí và các quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam (08/02/2017)
- Tìm hiểu một số quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về Cá nhân (16/02/2017)
- Tìm hiểu về “Thừa phát lại” trên thế giói và ở Việt Nam hiện nay (07/02/2017)
- Cần tạo thêm những bước đột phá cho hoạt động cải cách thủ tục hành chính trong giai đoạn mới (07/02/2017)
- Ngăn chặn rủi ro trong hoạt động công chứng: Cần sớm xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng (07/02/2017)
- Tìm hiểu các quy định của Bộ Luật dân sự 2015 về đại diện (07/02/2017)









