Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 1

  • Hôm nay 4818

  • Tổng 9.203.613

Ngành Tư pháp Quảng Bình sau gần 30 năm hình thành và phát triển

Post date: 28/05/2019

Font size : A- A A+

Ngày 24/4/1990, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình ban hành Quyết định số 377/QĐ-UB về việc thành lập Sở Tư pháp Quảng Bình, theo đó, Sở Tư pháp tỉnh là cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh có chức năng giúp UBND tỉnh quản lý thống nhất các công việc về tư pháp trong phạm vi toàn tỉnh.

Đồng thời, là cơ quan thuộc hệ thống tư pháp chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Tư pháp. Về tổ chức bộ máy, Lãnh đạo Sở Tư pháp gồm Giám đốc và 01 Phó Giám đốc; thực hiện chế độ lãnh đạo làm việc trực tiếp với chuyên viên. Đến tháng 8 năm 1996, UBND tỉnh thành lập 02 phòng thuộc Sở là Phòng nghiệp vụ và Phòng Tổ chức hành chính. Phòng Công chứng Nhà nước số 1 được thành lập ngày 26/10/1991 theo Quyết định số 530/QĐ-UB. Lúc mới thành lập Phòng Công chứng số 1 trực thuộc UBND tỉnh và được chuyển về thuộc Sở Tư pháp từ tháng 02/1997; Phòng Thi hành án Dân sự được thành lập từ tháng 7/1993 trên cơ sở chuyển công tác Thi hành án dân sự từ TAND sang Tư pháp, biên chế của Phòng Thi hành án Dân sự do Bộ Tư pháp quy định ngoài biên chế của địa phương. Từ tháng 05/1998, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh được thành lập theo Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 04/5/1998 của UBND tỉnh.  Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản thành lập theo Quyết định số 60/2002/QĐ-UB ngày 05/9/2002 của UBND tỉnh. Đến nay, Sở Tư pháp có Lãnh đạo Sở và 4 phòng nghiệp vụ (Phòng Xây dựng, kiểm tra văn bản QPPL và theo dõi thi hành pháp luật, Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật, Phòng Hành chính tư pháp, Phòng Bổ trợ Tư pháp), 2 tổ chức giúp việc (Văn phòng Sở, Thanh tra Sở), 3 đơn vị trực thuộc (Phòng công chứng số 1, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản). 
Trong giai đoạn này, ngoài các nhiệm vụ trên, Sở Tư pháp Quảng Bình còn được giao thực hiện thêm nhiệm vụ quản lý Tòa án nhân dân địa phương về mặt tổ chức theo sự uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Với 9 nhóm nhiệm vụ trong giai đoạn đầu và hiện nay đang tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện 34 nhóm nhiệm vụ, Sở, ngành Tư pháp Quảng Bình không ngừng đổi mới, nâng cao năng lực quản lý điều hành và biện pháp tổ chức thực hiện. Trên cơ sở Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Nghị quyết 48-NQ/TW Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; chương trình, kế hoạch, nhất là các chương trình trọng tâm công tác tư pháp của Bộ Tư pháp và các Nghị quyết, chương trình, kế hoạch công tác của Tỉnh ủy, Nghị quyết của HĐND tỉnh và chương trình, kế hoạch của UBND tỉnh, Sở, ngành Tư pháp đã xác định được điều kiện và mô hình hoạt động phù hợp, vừa triển khai đồng bộ, toàn diện các mặt công tác, vừa quan tâm, chú trọng các nhiệm vụ mới, lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm, tác động trực tiếp quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, doanh nghiệp và sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh trật tự của địa phương.
Trong công tác cải cách thể chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thực hiện các Nghị quyết từ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI đến Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tập trung chỉ đạo một số chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, như: Nâng cao chất lượng công tác xây dựng, quản lý và thực hiện quy hoạch, bảo đảm quy hoạch có tầm nhìn chiến lược, tránh tình trạng chồng chéo, gây lãng phí, bảo đảm phát triển bền vững. Tiếp tục phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo động lực cho sự phát triển trong thời kỳ mới. Phát triển đa dạng các ngành dịch vụ, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, chủ động rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các thể chế, chính sách để cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thu hút các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện tốt việc công khai hóa các quy trình, thu tục hành chính; tiêp tục rà soát, loại bỏ những rào cản đối với sự phát triển của doanh nghiệp; tăng cường hệ thống cung cấp thông tin hỗ trợ doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững; đổi mới công tác cán bộ, thu hút nhân tài, các chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình đào tạo nghề, việc làm...
Để thể chế hóa, triển khai thực hiện những chủ trương lớn đó, đồng thời để cụ thể hóa các quy định của Luật, Bộ Luật và các văn bản QPPL của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phù hợp với điều kiện, tình hình của tỉnh trong từng giai đoạn, HĐND và UBND cần ban hành các văn bản QPPL theo thẩm quyền đã quy định, như Nghị quyết về quy hoạch chung phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, về quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực; quyết định của UBND tỉnh ban hành các chương trình trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội, về các chính sách thu hút đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút nhân tài... Đồng thời, phải rà soát để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy định của pháp luật về quản lý quy hoạch xây dựng, về quản lý đầu tư, về giá đất, chính sách về nhà ở xã hội; chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; chính sách hỗ trợ người nghèo... đảm bảo sự thống nhất, phù họp với văn bản pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương ban hành và phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh. Để nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật và năng lực thực thi pháp luật, tỉnh cần tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, năng lực tổ chức thực thi pháp luật của các cơ quan, cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước từ tỉnh đến cơ sở, nhất là cơ quan tư pháp các cấp, bộ phận pháp chế và cán bộ, công chức làm công tác pháp luật ở các cơ quan hành chính nhà nước; nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân trong tỉnh.
 Với tinh thần và yêu cầu nêu trên, Sở, ngành Tư pháp đã tích cực tham mưu, giúp UBND cùng cấp thực hiện nghiêm túc Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đã tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL, từ việc tham mưu tổng kết, đánh giá đến việc phối hợp với các sở, ngành địa phương tổ chức soạn thảo, lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động của văn bản và đặc biệt là Sở, ngành đã không ngừng nâng cao trách nhiệm và chất lượng thẩm định văn bản QPPL. Công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL ở địa phương bước đầu đã huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, có tính khả thi cao, đã từng bước khắc phục tình trạng máy móc, cứng nhắc, pháp lý thuần túy, được nhân dân đồng tình ủng hộ và nghiêm túc tổ chức thực hiện. Sở, ngành Tư pháp đã thường xuyên kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL do địa phương ban hành để kịp thời tham mưu sửa đổi, bổ sung, ban hành mới cho phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành và thực tiễn của địa phương, phát huy vai trò là “người gác cổng”, thực hiện tốt chức năng là cơ quan “tiền kiểm” đồng thời là cơ quan “hậu kiểm”. Tăng cường phối hợp với Mặt trận và các đoàn thể phát huy vai trò, giám sát, phản biện xã hội, nhất là trong việc nghiên cứu, đánh giá nhu cầu, hoạch định chính sách, hoàn thiện hệ thống pháp luật ở địa phương. Từ năm 1989 đến nay, Sở Tư pháp đã thẩm định 360 dự thảo Nghị quyết của HĐND tỉnh và 1120 Quyết định và 784 Chỉ thị của UBND tỉnh. Ngoài việc góp ý, thẩm định đối với các dự thảo văn bản do địa phương ban hành, Sở Tư pháp còn tích cực, chủ động tham mưu tổng kết thi hành Hiến pháp và pháp luật; tham mưu và tổ chức thực hiện có chất lượng việc lấy ý kiến nhân dân tham gia góp ý Hiến pháp, Luật, Bộ Luật và văn bản QPPL ở trung ương. Sở đã thực hiện kiểm tra, tự kiểm tra theo thẩm quyền hơn 3230 văn bản QPPL; rà soát hơn 22.000 lượt văn bản QPPL; đã tập hợp hơn 1.400 văn bản để phục vụ hệ thống hóa kỳ đầu văn bản QPPL do HĐND, UBND các cấp ban hành. Quá trình hệ thống hóa đã tuân thủ, thực hiện nghiêm túc các quy định, các đối tượng hệ thống hóa đã được xem xét, đối chiếu với các văn bản cấp trên, qua đó phát hiện những nội dung, quy định không phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo với hệ thống văn bản QPPL cấp trên, hết hiệu lực để tiến hành sửa đổi, bổ sung, thay thế, công bố hết hiệu lực. Từ những hoạt động trên, các chủ trương, Nghị quyết của các cấp ủy Đảng, các văn bản QPPL của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương đã được thể chế hóa, cụ thể hóa kịp thời, đồng bộ; đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương; đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Chỉ số cải cách thể chế của tỉnh trong Bộ Chỉ số cải cách hành chính do Bộ Nội vụ đánh giá hàng năm đều đạt cao[1]
Công tác CCHC tiếp tục được đẩy mạnh, nhất là cải cách TTHC. Sở đã chủ động, tích cực thực hiện từ việc tham mưu UBND tỉnh ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành đến việc tham mưu giúp UBND tỉnh thực hiện nghiêm túc 2/8 chỉ số cải cách hành chính của tỉnh, đó là chỉ số hoàn thiện thể chế và chỉ số cải cách thủ tục hành chính (chỉ số này từ tháng 11/2017 do Văn phòng UBND tỉnh tham mưu). Sở đã thực hiện tiếp nhận hồ sơ, TTHC và trả kết quả qua bộ phận một của từ năm 2004. Các TTHC trong lĩnh vực tư pháp được minh bạch, công khai, bước đầu thực hiện có hiệu quả việc rút ngắn 10% thời gian giải quyết TTHC so với quy định; tăng cường đối thoại; tất cả các TTHC đều được tiếp nhận và trả kết quả qua bộ phận 1 cửa, 35 thủ tục thực hiện ở mức độ 3 và mức độ 4; Sở, Ngành đã thường xuyên khảo sát sự hài lòng của người dân; xin lỗi cá nhân, tổ chức khi có sự trễ hẹn trong thực hiện TTHC; thực hiện quy trình nội bộ ISO; thực hiện đánh giá chất lượng công chức, viên chức qua kết quả giải quyết TTHC. Thực hiện chủ trương chung của tỉnh, Sở đã thực hiện chuyển 157/160 thuộc thẩm quyền của Sở sang tiếp nhận và trả hồ sơ tại Trung tâm hành chính công của tỉnh. . Nhờ vậy, Chỉ số cải cách TTHC của tỉnh trong Bộ Chỉ số cải cách hành chính do Bộ Nội vụ đánh giá hàng năm và công tác CCHC trong nội bộ Sở, Ngành hàng năm đều đạt cao.[2] 
 Cùng với cả tỉnh, việc cải cách thủ tục hành chính đã tạo sự thống nhất, đồng bộ, đơn giản, công khai, minh bạch; tạo sự thuận lợi cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trong tiếp cận và thực hiện TTHC; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, từng bước nâng cao tính chuyên nghiệp của bộ máy hành chính và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; góp phần phòng chống tham nhũng, lãng phí; tạo điều kiện cho nhân dân giám sát việc thực hiện TTHC tại các cơ quan hành chính các cấp; tăng cường nhận thức, huy động sự tham gia tích cực của công dân, doanh nghiệp đối với sự quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước và công cuộc cải cách hành chính.
Để thực hiện vai trò đầu mối trong hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, thời gian qua, Sở đã phối hợp với Hội Doanh nghiệp tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh, Sở Kế hoạch đầu tư, Sở Tài chính thực hiện nhiều biện pháp và hình thức phù hợp để thực hiện hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Công tác quản lý nhà nước về theo dõi thi hành pháp luật, pháp chế, xử lý vi phạm hành chính, quản lý nhà nước về giao dịch bảo đảm, bồi thường nhà nước, chứng thực, đăng ký quản lý hộ tịch, lý lịch tư pháp tiếp tục được triển khai thực hiện có nền nếp, hiệu quả. Công tác xã hội hóa các lĩnh vực bổ trợ Tư pháp được quan tâm thực hiện và bước đầu đạt được một số kết quả. Toàn tỉnh hiện có 14 tổ chức hành nghề luật sư 34 luật sư; có 07 tổ chức hành nghề công chứng, 15 công chứng viên; có 02 Tổ chức Giám định Tư pháp công lập, 03 tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc; có 04 tổ chức đấu giá tài sản. Từ năm 2002 đến nay, chỉ tính riêng Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản đã thực hiện gần 5200 cuộc bán đấu giá tài sản, với tài sản bán được hơn 3.270 tỷ đồng, chênh lệch so với giá khởi điểm hơn 370 tỷ đồng, góp phần tăng thu ngân sách cho địa phương. Từ năm 1997 đến nay, đã thụ lý và thực hiện TGPL được 34.230 vụ việc cho 35.030 người thuộc diện được TGPL miễn phí. Từ năm 2002 đến nay, chỉ tính riêng Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản đã thực hiện gần 5200 cuộc bán đấu giá tài sản, với tài sản bán được hơn 3.270 tỷ đồng, chênh lệch so với giá khởi điểm hơn 370 tỷ đồng, góp phần tăng thu ngân sách cho địa phương.
Công tác tuyên truyền, PBGDPL được thực hiện nghiêm túc theo Chỉ thị 32-CT/TW của Ban Bí thư và Kế hoạch số 19 KH/TU của Thường vụ Tỉnh ủy, Luật Phổ biến giáo dục pháp luật, Luật hòa giải ở cơ sở và các quy định có liên quan. Các hình thức PBGDPL ngày càng phong phú, đa dạng, đổi mới. Cơ chế phối hợp trong PBGDPL đã được xác lập, đi vào nền nếp. Công tác PBGDPL đã đi và chiều sâu, hướng về cơ sở, lựa chọn nội dung gắn với từng nhóm đối tượng, từng lĩnh vực, địa bàn, quan tâm các nhóm đối tượng có nguy cơ cao về vi phạm pháp luật, địa bàn trọng điểm về vi phạm pháp luật, địa bàn có các dự án, địa bàn bị ảnh hưởng của sự cố ô nhiễm môi trường biển; quan tâm, chú trọng đối tượng đặc thù, đối tượng yếu thế trong xã hội, đã góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn. Công tác xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận được thực hiện nghiêm túc, gắn với thực hiện xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh. Đến nay, có 137/159 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.
Tính đến ngày 24/4/2019, Sở Tư pháp Quảng Bình đã bước sang “tuổi” 30 và cũng từng ấy năm đồng hành cùng tỉnh nhà đổi mới và phát triển. Mặc dù vẵn có những tồn tại hạn chế cần tiếp tục khắc phục và phấn đấu vươn lên, nhưng có thể khẳng định rằng, từ các hoạt động giúp Chính quyền xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống pháp luật đến các hoạt động chuyên môn có tính sự vụ, tác nghiệp, cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp, công tác tư pháp đang ngày càng thấm sâu hơn vào đời sống Nhân dân và sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu pháp lý về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức. Góp phần quan trọng nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành bằng pháp luật, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường pháp lý lành mạnh; thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển; bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp; góp phần thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu về kinh tế - xã hội, về cải cách tư pháp, cải cách hành chính, cải thiện và duy trì thứ hạng cao về PAPI...góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của ngành Tư pháp và của địa phương.
                                     Nguyễn Thị Lài

                                      TUV, Giám đốc Sở Tư pháp


[1] chỉ số cải cách thể chế năm 2012 đạt 90,43%; năm 2013 đạt 83,40%; năm 2014 đạt 89,43%; năm 2015 đạt 88%; năm 2016 đạt 93,33%; năm 2017 đạt 86,24%.
[2] Chỉ số cải cách TTHC của tỉnh năm 2013 đạt 97,50%; năm 2014 đạt 90%; năm 2015 đạt 100%; năm 2016 đạt 88,89%; năm 2017 đạt 99,72%. 6 năm liên tục chỉ số CCHC của Sở đều đạt trên 90%, 04 năm liên tục (2013, 2014, 2015, 2016), Sở xếp thứ nhất, năm 2017 xếp thứ hai và năm 2018 xếp thứ tư về CCHC trong khối các sở, ngành cấp tỉnh.
 
 
 

 

More