Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 1

  • Hôm nay 275

  • Tổng 9.204.393

Một số vướng mắc trong trình bày thể thức văn bản quản lý nhà nươc

13:50, Thứ Hai, 7-10-2019

Xem với cỡ chữ : A- A A+

Thể thức văn bản quản lý nhà nước là tập hợp các thành phần cấu thành văn bản, bao gồm những thành phần chung áp dụng đối với các loại văn bản và các thành phần bổ sung trong những trường hợp cụ thể hoặc đối với một số loại văn bản nhất định. Quá trình xây dựng, ban hành văn bản quản lý nhà nước, bên cạnh phải đảm bảo đúng về thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng thì đảm bảo về thể thức cũng một yêu cầu quan trọng, góp phần đảm bảo tính pháp lý của văn bản quản lý nhà nước.

Hiện nay, hệ thống văn bản quản lý nhà nước do các cơ quan, tổ chức, đơn vị tham mưu soạn thảo hoặc ban hành có hai loại là văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính. Đối với văn bản quy phạm pháp luật quá trình soạn thảo, ban hành phải tuân thủ quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (gọi tắt là Nghị định số 34). Đối với văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước và văn bản quy phạm pháp luật liên tịch thì tuân thủ quy định tại Nghị quyết số 351/2017/UBTVQH14 ngày 14/3/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước (gọi tắt là Nghị quyết số 351).
Đối với văn bản hành chính nhà nước (bao gồm văn bản của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế và đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân) cần tuân thủ quy định tại Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính (gọi tắt là Thông tư số 01).
Thời gian qua, các cơ quan nhà nước, các tổ chức, đơn vị đã ban hành hoặc tham mưu cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản đảm bảo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền, góp phần nâng cao chất lượng văn bản. Tuy nhiên, quá trình thực hiện có một số vướng mắc sau:
Thứ nhất, về Quốc hiệu và Tiêu ngữ
Quốc hiệu và Tiêu ngữ là thành phần đầu tiên trong thể thức văn bản quản lý nhà nước. Thành phần có vai trò vô cùng quan trọng, vì đây là tên chính thức của một quốc gia, không chỉ biểu thị về chủ quyền lãnh thổ mà còn là danh xưng chính thức trong ngoại giao. Bên cạnh đó, Quốc hiệu và Tiêu ngữ là dấu hiệu quan trọng để phân biệt văn bản của cơ quan nhà nước với văn bản của các tổ chức khác.
Hiện nay, quy định về cách trình bày đối với Quốc hiệu và Tiêu ngữ là chưa thống nhất giữa Nghị định số 34, Nghị quyết số 351 và Thông tư số 01, cụ thể:
Tại Thông tư số 01 quy định “Quốc hiệu ghi trên văn bản bao gồm 2 dòng chữ: “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM” và “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. Cách trình bày dòng thứ nhất: “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM” được trình bày bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 12 đến 13, kiểu chữ đứng, đậm; dòng thứ hai: “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” được trình bày bằng chữ in thường, kiểu chữ đứng, đậm; cỡ chữ từ 13 đến 14.
Tuy nhiên, tại Nghị định số 34 quy định: Phần mở đầu của văn bản gồm: Quốc hiệu, Tiêu ngữ. Quốc hiệu là: “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM”. Quốc hiệu được trình bày bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 12 đến 13, kiểu chữ đứng, đậm. Tiêu ngữ là: “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. Tiêu ngữ được trình bày bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm.
Tại Nghị quyết số 351 quy định: Quốc hiệu là: “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM”; Tiêu ngữ là: “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. Quốc hiệu được trình bày bằng chữ in hoa, cỡ chữ 12, kiểu chữ đứng, đậm; Tiêu ngữ được trình bày bằng chữ in thường, cỡ chữ 14, kiểu chữ đứng, đậm, đặt canh giữa phía dưới Quốc hiệu.
Như vậy, Thông tư 01 không tách riêng về Quốc hiệu và Tiêu ngữ mà quy định chung là Quốc hiệu cho cả hai thành phần trên.
Đối với Nghị định số 34 và Nghị quyết số 351 quy định Quốc hiệu và Tiêu ngữ riêng, song về trình bày kiểu chữ, cỡ chữ là không thống nhất với nhau.
Thứ hai, về căn cứ để ban hành văn bản
Căn cứ để ban hành văn bản quản lý nhà nước là các văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực pháp lý cao hơn đang có hiệu lực pháp luật. Đây cũng là thành phần quan trọng để xem xét nội dung văn bản có hợp hiến, hợp pháp và hợp lý hay không. Tuy nhiên, hướng dẫn cách trình bày về căn cứ để ban hành văn bản quản lý nhà nước cũng chưa thống nhất.
Thông tư 01 quy định: Phần nội dung (trong đó có căn cứ ban hành văn bản) được trình bày bằng chữ in thường kiểu chữ đứng; cỡ chữ từ 13 đến 14; sau mỗi căn cứ phải xuống dòng, cuối dòng có dấu “chấm phẩy”, riêng căn cứ cuối cùng kết thúc bằng dấu “phẩy”.”
Tại Nghị định số 34 quy định: Căn cứ ban hành văn bản được thể hiện bằng chữ in thường, kiểu chữ nghiêng, cỡ chữ 14, trình bày dưới phần tên của văn bản; sau mỗi căn cứ phải xuống dòng, cuối dòng có dấu chấm phẩy (;), dòng cuối cùng kết thúc bằng dấu chấm(.).
Từ những vấn đề không thống nhất như trên, đã gây không ít khó khăn trong quá trình tham mưu để cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản. Do vậy, đề nghị cơ quan nhà nước cơ thẩm quyền xem xét, có sự hướng dẫn thống nhất về thể thức văn bản quản lý nhà nước, từ đó để có cách hiểu và trình bày thống nhất trong xây dựng và soạn thảo văn bản quản lý nhà nước, đảm bảo tính nghiêm túc, trang trọng của văn bản quản lý nhà nước.

Luật gia: Trần Tiến Hải
Trường Chính trị Quảng Bình

Các tin khác