Chi tiết tin - Sở Tư pháp
Quyền tự do biểu đạt và tư do thông tin trong Công ước về các quyền dân sự và chính trị
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, viết tắt là ICCPR, được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 1966), là điều ước quốc tế quan trọng nhất bảo vệ và thúc đẩy các quyền dân sự và chính trị của mọi cá nhân trong cộng đồng nhân loại. Công ước này, cùng với Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền (1948, viết tắt là UDHR) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966, viết tắt là ICESCR) hợp thành một “bộ luật nhân quyền quốc tế”.
Quyền tự do biểu đạt và quyền tự do thông tin là một trong các quyền cơ bản được khẳng định trong ICCPR.
Con người có rất nhiều hình thức để biểu đạt quan điểm, tư tưởng hay cảm xúc của mình. Có những biểu đạt bằng cơ thể, thông qua khuôn mặt, mắt, chân, tay, ngón tay. Cũng có những biểu đạt thông qua giọng nói, tiếng nói, chẳng hạn như nói chuyện, trao đổi, la hét, gào khóc, hát…hoặc thông qua ngôn ngữ, chữ viết, chữ in, báo chí, sách vở, thông qua hình vẽ, tranh vẽ, ảnh chụp, ký hiệu, chữ ký… Trong nhiều tình huống, sự im lặng cũng là một cách biểu đạt.
Nếu như ngôn ngữ (nói, viết) được coi là cái vỏ của tư duy, thì biểu đạt chính là tập hợp các hình thức thể hiện tư tưởng của con người, trong đó bao gồm, nhưng không giới hạn ở việc sử dụng các dạng ngôn ngữ theo quan niệm truyền thống. Quan niệm chung cho rằng, biểu đạt còn được thể hiện qua các loại hình nghệ thuật như văn học (thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi ký…), hội hoạ, âm nhạc, ca hát, nhảy múa, điêu khắc… Các hình thức này thường đòi hỏi sự tinh tế, khéo léo, tài năng của chủ thể sáng tạo. Có nhiều hình thức biểu đạt kết hợp nhiều loại hình nghệ thuật như điện ảnh, ca kịch…
Theo luật nhân quyền quốc tế, tự do biểu đạt bao gồm cả tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do xuất bản, tự do Internet, triển lãm, biểu diễn nghệ thuật…Tự do biểu đạt có thể về bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống xã hội (kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội...). Trong Bình luận chung số 34 (đoạn 11), Ủy Ban nhân quyền (HRC) giải thích khoản 2 Điều 19 rằng “quyền này bao gồm các tranh luận chính trị, bình luận về một người và về các vấn đề chung, vận động, thảo luận về quyền con người, báo chí, các biểu đạt về văn hóa và nghệ thuật, giáo dục và tranh luận tôn giáo“. Trong phán quyết về một số vụ việc, HRC khẳng định rằng phạm vi tự do biểu đạt được bảo vệ bao gồm các phát biểu, thảo luận về chính trị, quyền tự do biểu đạt bao trùm cả lĩnh vực thương mại và nhiều lĩnh vực khác.
Khoản 1 Điều 19 ICCPR khẳng định ngắn gọn về quyền tự do quan điểm: Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp. Tại đoạn 1 Bình luận chung số 10 (1983), HRC đã phân biệt giữa “quyền giữ quan điểm” với “quyền tự do biểu đạt”. Ủy ban khẳng định quyền được giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp nêu ở khoản 1 Điều 19 là quyền tuyệt đối, không được hạn chế hay tước bỏ trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình huống khẩn cấp của quốc gia. Tuy nhiên, quyền tự do biểu đạt có thể phải chịu những hạn chế nhất định, với điều kiện những hạn chế đó phải được quy định trong pháp luật và chỉ để nhằm các mục đích như nêu ở khoản 3 Điều 19. Việc giữ quan điểm của cá nhân là hành vi thụ động và là một tự do tuyệt đối. Tính chất tuyệt đối của quyền giữ quan điểm sẽ kết thúc khi một người bày tỏ, biểu đạt hay phát ngôn quan điểm của mình. Hành động này đã sang lĩnh vực của “tự do biểu đạt”.
Khoản 3 Điều 19 ICCPR khẳng định việc thực hiện quyền tự do biểu đạt “đi kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt”. Cụ thể, quyền này phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc danh dự của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức công chúng. Về những điều kiện khi áp đặt hạn chế với quyền này, trong Bình luận chung số 34, HRC nhấn mạnh: Tuy nhiên, khi quốc gia thành viên đặt ra những hạn chế với việc thực hành quyền tự do biểu đạt, các biện pháp hạn chế này không được làm ảnh hưởng đến bản chất của quyền...(đoạn 21).
Các giới hạn đối với tự do biểu đạt thường không nhắm thẳng đến người biểu đạt, tác giả của biểu đạt, mà thường hướng đến các phương tiện biểu đạt. Chẳng hạn việc kiểm duyệt, cấm nhập khẩu, cấm phổ biến, tịch thu, thu hồi một tác phẩm đã xuất bản, một bộ phim, một đĩa nhạc… Các loại can thiệp này không bị cấm tuyệt đối theo Điều 19 ICCPR. Tuy nhiên, cần căn cứ vào Khoản 3 Điều 19 để đánh giá, nếu việc giới hạn vượt quá mức độ cần thiết là sự xâm phạm quyền tự do biểu đạt. Loại can thiệp phổ biến thứ hai thường hướng đến ngăn chặn gián tiếp các biểu đạt trái ý, thông qua việc nhà nước kiểm soát các pháp nhân, chẳng hạn như các nhà xuất bản, công ty in, tòa báo, đài phát thanh, đài truyền hình, doanh nghiệp phân phối phim, rạp hát. Loại vi phạm thứ ba trực tiếp hướng đến cá nhân muốn biểu đạt (tác giả, người biên tập, chủ sở hữu công ty in…). Theo quan điểm của các chuyên gia nhân quyền quốc tế, việc một quốc gia sử dụng các hình phạt (hành chính, hình sự), các biện pháp ngăn chặn (cấm kinh doanh, tạm giam, trục xuất…), hoặc các hình thức truy bức, dọa nạt, quấy rối khác nhằm ngăn chặn cá nhân biểu đạt các quan điểm sẽ được xếp vào vi phạm loại này. Loại vi phạm này thường kéo theo việc xâm phạm nghiêm trọng các quyền khác của cá nhân (an toàn thân thể, không bị đối xử vô nhân đạo, tự do đi lại, tự do hội họp, quyền sống…).
ICCPR không đưa ra một định nghĩa cụ thể về tự do thông tin, nhưng khái niệm này thường được hiểu bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận, tiếp cận, chia sẻ, trao đổi và phổ biến thông tin. Trong thực tế, những nội dung của tự do thông tin cũng chính là những thành tố của tự do biểu đạt. Khoản 2 Điều 19 ICCPR xác định quyền tự do biểu đạt bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến (truyền đạt, chuyển tải) mọi thông tin và ý kiến.
Tự do thông tin thường được đồng nghĩa với quyền tiếp cận thông tin, hoặc quyền tự do thông tin, mặc dù khái niệm quyền tiếp cận thông tin đôi khi được giải thích với nghĩa hẹp hơn là quyền được biết về tổ chức và hoạt động của một chủ thể nào đó, đặc biệt là của các cơ quan nhà nước.
Bình luận chung số 34 của HRC (2011) đặc biệt lưu ý đến quyền tiếp cận các thông tin nắm giữ bởi các cơ quan nhà nước. Mặc dù Điều 19 không đề cập đến thuật ngữ “tiếp cận thông tin”, HRC giải thích rằng quyền này được bao hàm trong khoản 2 Điều 19, theo đó, mọi người có quyền tiếp cận thông tin mà các cơ quan công quyền nắm giữ, các thông tin đó bao gồm các dạng hồ sơ bất kể hình thức lưu trữ, nguồn tin và ngày xác lập. Quyền tiếp cận thông tin bao gồm quyền của truyền thông được tiếp cận thông tin về các vấn đề công, quyền của công chúng nói chung được tiếp nhận sản phẩm truyền thông, quyền của cá nhân biết được các cơ quan công quyền, cá nhân hay tổ chức nào kiểm soát, có thể kiểm soát dữ liệu cá nhân của mình… (đoạn 18).
Cũng trong Bình luận chung số 34, HRC kêu gọi các quốc gia thành viên chủ động đưa ra công chúng những thông tin nhà nước vì lợi ích công và phải nỗ lực để đảm bảo cho công chúng được tiếp cận với những thông tin này một cách dễ dàng, nhanh chóng, hiệu quả. Quốc gia thành viên cũng phải xây dựng những thủ tục cần thiết để một người có thể tiếp cận được thông tin, ví dụ như thông qua các đạo luật về tự do thông tin. Những thủ tục ấy phải tạo điều kiện xử lý nhanh chóng các yêu cầu cung cấp thông tin theo những nguyên tắc rõ ràng và phù hợp với ICCPR. Chi phí yêu cầu thông tin không được trở thành rào cản phi lý trong tiếp cận thông tin. Cơ quan chức năng phải giải thích lý do cho bất kỳ việc từ chối cung cấp tiếp cận thông tin nào. Phải có cơ chế để khiếu nại việc từ chối tiếp cận thông tin cũng như việc không phản hồi yêu cầu tiếp cận thông tin (đoạn 19).
Khái niệm quyền được thông tin xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1776 trong trong Luật về tự do báo chí của Thụy Điển. Đạo luật này, bên cạnh việc bảo vệ quyền tự do ngôn luận, ghi nhận rằng công dân có quyền được “tiếp cận tài liệu công”. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, đặc biệt là sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, quyền tự do thông tin và tiếp cận thông tin ngày càng được các quốc gia quan tâm. Nếu năm 1990 chỉ có 13 nước ban hành Luật tự do thông tin/tiếp cận thông tin thì đến thời điểm năm 2010 đã có 100 nước ban hành luật này. Sau Thụy Điển những nước đi tiên phong trong việc ban hành Luật Tự do thông tin là Colombia (1885), Phần Lan (1919), Mỹ (1966), Na Uy (1970), Pháp (1978), Úc (1982), Canada (1983), Đan Mạch (1985), Hà Lan (1991), Hungary (1992), Hàn Quốc (1996), Kirgizstan (1997), Thái Lan (1997), Anbani (1999), Bungary (2000), Nam Phi (2000), Anh (2000)… Gần đây hơn, nhiều quốc gia ban hành luật trong lĩnh vực này là Thổ Nhĩ Kỳ (2003), Pêru (2003), Nhật Bản (2004), Ấn Độ (2005), Azerbaijan (2005), Uganda (2005), Nga (2006), Indonesia (2007)…Theo Tony Mendel, chuyên gia quốc tế về quyền tiếp cận thông tin, thì xu hướng ngày càng có nhiều luật về tự do thông tin được ban hành bởi quan điểm phổ biến trên thế giới hiện nay là các cơ quan công quyền nắm giữ thông tin không phải cho chính bản thân họ mà là vì lợi ích công cộng.
Mọi quốc gia đều có những thông tin có liên quan đến an ninh, quốc phòng, sự tồn vong của đất nước mà cần phải được bảo vệ trong một thời hạn nhất định. Gần như tất cả các quốc gia có các quy định pháp luật để bảo vệ những thông tin này. Tuy nhiên, thường xảy ra sự xung đột giữa các quy định về bí mật quốc gia và quyền tự do thông tin. Việc sử dụng các trường hợp ngoại lệ trên phạm vi rộng với lý do để bảo vệ an ninh quốc gia thường ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực thi các quyền cơ bản, bao gồm quyền được tiếp cận thông tin. Việc này diễn ra ở nhiều quốc gia, ngay cả ở những quốc gia có nền dân chủ lâu đời nhất.
Các luật về tự do thông tin của các quốc gia đều quy định các trường hợp ngoại lệ không công khai thông tin để bảo vệ an ninh quốc gia hoặc dẫn chiếu đến một đạo luật khác. Các đạo luật khác bao gồm Luật về Bảo vệ thông tin mật (đưa ra các thủ tục cho việc tạo ra, bảo vệ, sử dụng và công bố những thông tin mật), Bộ luật Hình sự (nghiêm cấm, xử phạt việc công khai thông tin trái phép), các đạo luật về việc thành lập các cơ quan quốc phòng, tình báo và các đạo luật chuyên ngành về việc tiếp cận các hồ sơ và tài liệu lưu trữ của lực lượng an ninh.
Để ngăn ngừa tình trạng các quốc gia lạm dụng lý do “an ninh quốc gia” để giới hạn quá mức quyền tiếp cận thông tin của người dân, Nguyên tắc 12 trong Các Nguyên tắc Johannesburg về an ninh quốc gia, tự do biểu đạt và tiếp cận thông tin năm 1995 nêu yêu cầu đối với các nhà nước là chỉ quy định phạm vi hẹp thông tin về an ninh quốc gia (chứ không phải tất cả các thông tin liên quan đến an ninh quốc gia) cần giữ bí mật. Cụ thể, một quốc gia “không thể từ chối tổng thể việc tiếp cận tất cả các thông tin liên quan đến an ninh quốc gia, mà phải quy định trong luật chỉ có những loại thông tin cụ thể và hẹp mà nó cần giữ lại để bảo vệ lợi ích an ninh quốc gia chính đáng.”
Ở Việt Nam, Các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin ở Việt Nam được bảo đảm trên thực tế ngày càng tốt hơn nhờ sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung của các phương tiện thông tin đại chúng. Các cuộc tranh luận, chất vấn, phản biện về chủ trương, chính sách tại Quốc hội, các cuộc tọa đàm, tranh luận, các thông tin đa chiều trên phương tiện thông tin đại chúng về mọi vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, với sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị, xã hội và người dân là thực tiễn diễn ra hàng ngày trong đời sống của người dân Việt Nam.
Luật tiếp cận thông tin của Việc Nam được Quốc hội thông qua ngày 06/4/2016 tại kỳ họp thứ 11. Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 19/4/2015. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2018 đã quy định cụ thể về chủ thể thực hiện quyền tiếp cận thông tin; chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin; cách thức tiếp cận thông tin; các hành vi bị nghiêm cấm; phạm vi thông tin được tiếp cận và trình tự, thủ tục yêu cầu tiếp cận thông tin. Việc ban hành Luật tiếp cận thông tin nhằm thể chế hoáchủ trương, chính sách của Đảng về "mở rộng dân chủ, bảo đảm quyền công dân, quyền con người", "tạo cơ chế nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp", "bảo đảm quyền được thông tin" của công dân; cụ thể hóa đầy đủ tinh thần và nội dung của Hiến pháp năm 2013 về công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các luật khác có liên quan và bảo đảm tính khả thi của Luật trong điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam; tiến hành thận trọng, mở dần từng bước và phải phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam, bảo đảm hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước.
Luật gia: Trần Lê
Các tin khác
- Tìm hiểu các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về Nghĩa vụ (23/02/2017)
- Một số quy định về thành lập và đăng ký doanh nghiệp (16/02/2017)
- Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả (14/02/2017)
- Tìm hiểu Luật Báo chí và các quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam (08/02/2017)
- Tìm hiểu một số quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về Cá nhân (16/02/2017)
- Tìm hiểu về “Thừa phát lại” trên thế giói và ở Việt Nam hiện nay (07/02/2017)
- Cần tạo thêm những bước đột phá cho hoạt động cải cách thủ tục hành chính trong giai đoạn mới (07/02/2017)
- Ngăn chặn rủi ro trong hoạt động công chứng: Cần sớm xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng (07/02/2017)
- Tìm hiểu các quy định của Bộ Luật dân sự 2015 về đại diện (07/02/2017)
- Quyền khác đối với tài sản trong Bộ Luật Dân sự năm 2015 (07/02/2017)









