Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 5

  • Hôm nay 590

  • Tổng 9.210.982

Quyền của phụ nữ trong các bản Hiến pháp Việt Nam

14:4, Thứ Ba, 11-4-2017

Xem với cỡ chữ : A- A A+
Quyền của phụ nữ là một vấn đề mang tính thời đại. Nó không phải chỉ là vấn đề của riêng phụ nữ mà là mối quan tâm chung của toàn xã hội và toàn nhân loại. Bởi lẽ, đời sống của phụ nữ là một bộ phận của đời sống xã hội, của đời sống gia đình và là “người xây tổ ấm” cho mỗi tế bào gia đình trong xã hội loài người. Người phụ nữ không hề tách biệt với phần còn lại của thế giới mà trái lại gắn liền và chi phối mạnh mẽ đời sống gia đình và xã hội. Trải qua hàng trăm năm tranh đấu bền bỉ, ngày nay quyền của phụ nữ đã trở thành vấn đề được quốc tế thừa nhận và trân trọng. Nhiều văn kiện và văn bản pháp luật quốc tế đã xác định và đề cao quyền của phụ nữ, bảo vệ phụ nữ như Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối với phụ nữ năm 1979 (Việt Nam tham gia các công ước này năm 1982)…

Ở nước ta, quyền của phụ nữ thực sự được đề cập đến một cách thực chất sau khi lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành lại độc lập cho dân tộc, chủ quyền cho nhân dân. Việc đầu tiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến đó là tiến hành tổng tuyển cử bầu đại biểu quốc hội và tiến hành xây dựng Hiến pháp. Quyền của phụ đã được đề cập ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta được Quốc hội thông qua ngày 09/11/1946. Điều 9 Hiến pháp năm 1946 đã quy định: “Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương diện”. Kể từ đó đến nay, Quốc hội đã thông qua tiếp 4 bản hiến pháp (Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013). Nội dung các bản hiến pháp đều có quy định về quyền của phụ nữ và các quy định này ngày càng phát triển vừa mang tính kế thừa vừa có tính đổi mới, đồng thời phù hợp với xu hướng phát triển của quốc tế và khu vực.
Như vậy, Hiến pháp năm 1946 lần đầu tiên quy định về sự ngang quyền (quyền bình đẳng) giữa đàn bà và đàn ông (phụ nữ và nam giới), đây là quy định có ý nghĩa rất lớn đối với phụ nữ trong bối cảnh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời. Điều này đã góp phần quan trọng, làm nền tảng cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ, giải phóng con người trong lịch sử lập hiến Việt Nam. Quy định đó thực sự đã phá tan xiềng xích tư tưởng “trọng nam kinh nữ” của chế độ phong kiến đã tồn tại hàng ngàn năm trước đó.
Đến Hiến pháp 1959, Điều 24 quy định: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình’’. Như vậy, so với Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 đã cụ thể hóa hơn các lĩnh vực mà người phụ nữ được quyền bình đẳng với nam giới. Quyền bình đẳng nam nữ được thể hiện trên 5 lĩnh vực từ xã hội đến gia đình. Đó là sự ghi nhận và trân trọng, được đảm bảo của toàn xã hội đối với phụ nữ.
Hiến pháp năm 1980, quyền của phụ nữ vừa được lồng vào các quyền cơ bản của công dân, vừa được quy định riêng nhằm tạo ra những điểm nhấn quan trọng, khẳng định quyền của phụ nữ. Điều 55 quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”, là một quy định chung nhất cho tất cả các giới tính, thể hiện sự không phân biệt trước xã hội. Điều 57 quy định “Công dân không phân biệt dân tộc, nam - nữ, thành phần xã hội…. từ 21 tuổi trở lên đều có thể được bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp” - là các cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở Trung ương và địa phương. Và “Phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình. Nhà nước và xã hội chăm lo nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ thuật và nghề nghiệp của phụ nữ, không ngừng phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội. Nhà nước có chính sách lao động phù hợp với điều kiện của phụ nữ. Phụ nữ và nam giới việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau. Phụ nữ có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương nếu là công nhân, viên chức, hoặc hưởng phụ cấp sinh đẻ nếu là xã viên hợp tác xã. Nhà nước và xã hội chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, nhà ăn công cộng và những cơ sở phúc lợi xã hội khác, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập và nghỉ ngơi.”.( Điều 63) “Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng…. Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con”(Điều 65).
Có thể khẳng định, Hiến pháp năm 1980 là bản Hiến pháp tiến bộ nhất so với các bản Hiến pháp trước, ở đó quyền của công dân nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng đã được khẳng định ở tầm cao hơn, cụ thể hơn.
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001), các quy định trên cơ bản được giữ nguyên là một sự khẳng định lại những giá trị về quyền của phụ nữ đã được xác định và phát huy hơn 2 thập kỷ. Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, năm 2006 Luật Bình đẳng giới được ban hành, các quyền của phụ nữ Việt Nam được quy định đầy đủ, cụ thể và toàn diện hơn. Các đạo luật và các văn bản pháp luật khác được ban hành ngày càng cụ thể hoá hơn các quy định của Hiến pháp về quyền của phụ nữ, trong đó nổi bật nhất là Luật Bảo hiểm xã hội (năm 2006, 2014), Luật Cư trú (2006), Luật Phòng chống bạo lực gia đình (năm 2007), Luật Quốc tịch (năm 2008), Bộ Luật Lao động (năm 2005, 2012), Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (năm 2007), Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2000, 2014)...
Hiến pháp năm 2013 đã quy định sâu sắc hơn quyền của phụ nữ trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định của các bản Hiến pháp trước. Các quy định từ Điều 14 đến Điều 49, Chương II Hiến pháp năm 2013 đã quy định các quyền con người, quyền công dân, trong đó quyền của phụ nữ, cụ thể:
Với tư cách công dân, phụ nữ có các quyền như sau:
- Quyền chính trị (bao gồm: Bình đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội (Điều 16). Tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28). Bầu cử khi đủ mười tám tuổi trở lên, ứng cử khi đủ hai mươi mốt tuổi trở lên vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân (Điều 27). Biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân (đối với công dân đủ 18 tuổi trở lên) (Điều 29). Tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình (Điều 25). Tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào (Khoản 1 Điều 24). Khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân (Điều 30);
- Quyền dân sự (bao gồm:Quyền sống, tính mạng được pháp luật bảo hộ, không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật (Điều 19). Bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm (Khoản 1 Điều 20). Hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật (Khoản 3 Điều 20). Có nơi ở hợp pháp (Khoản 1 Điều 22). Không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác (Khoản 2 Điều 17). Tự do đi lại và cư trú ở trong nước; ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định (Điều 23). Sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp và trong các tổ chức kinh tế khác (Khoản 1 Điều 32).Sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ (Khoản 2 Điều 32). Được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật (Khoản 2 Điều 54). Bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn (Khoản 1 Điều 21). Bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác (Khoản 2 Điều 21). Kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau (Khoản 1 Điều 36). Xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42).
- Quyền về kinh tế, lao động và việc làm (bao gồm: Tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm (Điều 33). Được tạo điều kiện để đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Tài sản hợp pháp của cá nhân đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa (khoản 3 Điều 51). Làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc (Khoản 1 Điều 35).
- Quyền về văn hóa, giáo dục, xã hội (bao gồm: Được đảm bảo an sinh xã hội (Điều 34); được thụ hưởng phúc lợi xã hội (Khoản 2 Điều 59). Được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh (Khoản 1 Điều 38). Học tập (Điều 39). Nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo vănhọc, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó (Điều 40); Nhà nước tạo điều kiện để mọi người tham gia và được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động khoa học và công nghệ (Khoản3 Điều 62). Hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41). Được sống trong môi trường trong lành (Điều 43).
- Quyền liên quan đến tố tụng, tư pháp (bao gồm: Không bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam,giữ người do luật định (Khoản2 Điều 20). Không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Khoản1 Điều 31). Không bị kết án hai lần vì một tội phạm (Khoản3 Điều 31). Được tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa trong trường hợp bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (Khoản4 Điều 31). Được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự nếu bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có (Khoản 5 Điều 31).
Ngoài các quyền trên, phụ nữ còn có các quyền như: Được Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội (Khoản 2 Điều 26).Được Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, quyền lợi của người mẹ và trẻ em (Khoản 2 Điều 36). Được nhà nước, xã hội và gia đình bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, thực hiện kế hoạch hóa gia đình (khoản 2 Điều 58).
Từ những quy định trên, chúng ta nhận thấy rằng, xét trong mối tương quan với nam giới, các quy định của pháp luật về quyền của phụ nữ Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm “bình đẳng và ưu tiên”. Có những quyền được pháp luật xây dựng bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ trước pháp luật nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử, nhưng có những quyền ưu tiên (trong việc tuyển dụng, sắp xếp công việc, nghỉ hưu...) có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ thể hiện khả năng của mình với việc đóng góp ngày càng nhiều cho gia đình, xã hội, đồng thời tránh rủi ro trong nghề nghiệp, trong cuộc sống gia đình và xã hội.
Tóm lại, quyền của phụ nữ Việt Nam đã trải qua một quá trình phát triển và hoàn thiện từ không thành có, từ sơ khai đến hoàn thiện, đã được thể hiện đậm nét trong 5 bản Hiến pháp Việt Nam. Quyền của phụ nữ đã được các bản Hiến pháp Việt Nam quy định ngày càng đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, và cũng phù hợp xu hướng hiến định của các nước trong khu vực và quốc tế. Điều này đã thể hiện mối quan tâm sâu sắc của cả hệ thống chính trị, của bộ máy nhà nước Việt Nam đối với sự phát triển của phụ nữ Việt Nam trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
Tuyết Hà
                                                                      

Các tin khác