Chi tiết tin - Sở Tư pháp
Ngành Tư pháp Quảng Bình với công cuộc cải cách tư pháp
Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” với mục tiêu là: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”. Để thực hiện mục tiêu trên, Nghị quyết đã đề ra 8 nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ: Hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp và xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp trong sạch, vững mạnh.
Là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp – cơ quan hành chính nhà nước, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp tham gia công cuộc cải cách tư pháp với nhiệm vụ chủ yếu được giao là: Tham mưu, giúp UBND cùng cấp thực hiện nhiệm vụ PBGDPL, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL nói chung và pháp luật trong lĩnh vực CCTP nói riêng; quản lý nhà nước các tổ chức bổ trợ tư pháp như công chứng, luật sư, giám định Tư pháp (nhiệm vụ này chỉ ở cấp tỉnh)... Theo đó cơ quan tư pháp là cơ quan thường trực của HĐPBGDPL và các BCĐ về PBGDPL, BCĐ thực hiện các chương trình, đề án về hành chính tư pháp và bổ trợ Tư pháp theo các văn bản Luật như: Luật PBGDPL, Luật Lý lịch Tư pháp, Luật Luật sư, Luật Công chứng, Luật Giám định Tư pháp, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước…
Để thực hiện nhiệm vụ PBGDPL nói chung và PBGDPL về CCTP nói riêng, hàng năm và từng giai đoạn 5 năm, cơ quan Tư pháp đã tham mưu, giúp UBND và HĐPH PBGDPL, các Ban chỉ đạo về PBGDPL ban hành và tổ chức thực hiện các Kế hoạch, chương trình về PBGDPL; tham mưu ban hành và tổ chức thực hiện Kế hoạch số 01-KHPH/BCĐCCTP-HĐPHPBGDPL ngày 10/3/2016 của Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp tỉnh và Hội đồng Phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh phối hợp thông tin, tuyên truyền chủ trương, nhiệm vụ cải cách tư pháp và hoạt động tư pháp giai đoạn 2016 - 2020. Nhờ vậy mà trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền của cá nhân, của công dân trong việc học tập, tìm hiểu, tuyên truyền, PBGDPL được xác định rõ. Cơ chế phối hợp trong PBGDPL từng bước được xác lập. Vai trò của Mặt trận, các tổ chức thành viên, của cơ quan tư pháp, Hội đồng phối hợp PBGDPL các cấp được khẳng định và không ngừng phát huy hiệu quả. Các cấp ủy, chính quyền các cấp ngày càng xác định đúng vai trò của công tác PBGDPL nên đã quan tâm hơn. Tổ chức, đội ngũ làm công tác PBGDPL như báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, cấp huyện, cán bộ pháp chế ở các Sở, ngành, ở các Doanh nghiệp; tuyên truyền viên pháp luật cấp xã, đội ngũ giáo viên, giảng viên dạy môn Giáo dục công dân, môn pháp luật ở các cấp học, bậc học; hòa giải viên ở cơ sở tiếp tục được củng cố, kiện toàn, họat động ngày càng nền nếp. Các Sở, ngành, địa phương đã xác định rõ về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác PBGDPL về cải cách Tư pháp. Hình thức PBGDPL phong phú, đa dạng, không ngừng được đổi mới, vận dụng phù hợp với đặc điểm cụ thể về đối tượng, địa bàn. Công tác PBGDPL đã đi vào chiều sâu, hướng về cơ sở, lựa chọn nội dung gắn với từng nhóm đối tượng, từng lĩnh vực, địa bàn. Nội dung tuyên truyền, phổ biến được định hướng rõ, bám sát các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, các văn bản QPPL, các đạo luật, bộ luật về cải cách tư pháp. Tuy nhiên, số lượng văn bản cần tuyên truyền quá lớn, nội dung phức tạp, thường xuyên sửa đổi, bổ sung. Tình trạng trông chờ, ỷ lại vẫn còn, tính tự giác, thói quen tự nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật chưa nhiều. Việc PBGDPL chưa đều khắp, nhiều văn bản chưa được tổ chức tuyên truyền sâu rộng, còn chạy theo văn bản mới ban hành. Chưa gắn kết chặt chẽ công tác PBGDPL với tổ chức thực hiện pháp luật, chưa tạo được bước đột phá. Nguồn lực đầu tư cho công tác PBGDPL còn khó khăn. Các nguồn lực khác ngoài ngân sách chưa được tích cực huy động.
Trong lĩnh vực bổ trợ Tư pháp, Sở Tư pháp đã tham mưu UBND tỉnh ban hành và tổ chức thực hiện các chương trình, đề án, kế hoạch để thực hiện Luật Công chứng, Luật Luật sư, Luật Giám định Tư pháp, Luật TGPLvà các văn bản hướng dẫn thi hành; Đề án Quy hoạch và phát triển tổ chức hành nghề công chứng; Đề án “Phát triển đội ngũ luật sư từ năm 2011 đến năm 2020”; Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp”; Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý (TGPL), trong đó đã tập trung chỉ đạo hoạt động tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý.
Qua 5 năm thực hiện quy hoạch và 3 năm thực hiện Luật Công chứng năm 2014, các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác xã hội hoá hoạt động công chứng, từ việc ban hành các văn bản chỉ đạo hướng dẫn đến việc tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt để phát triển tổ chức hành nghề công chứng trên địa phương góp phần thực hiện mục tiêu xã hội hóa công chứng theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược CCTP đến năm 2020, Nghị quyết số 17/NQ-TW ngày 01/8/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về đẩy mạnh CCHC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Đã phát triển thêm 05 Văn phòng công chứng, đưa tổng số tổ chức hành nghề công chứng ở tỉnh hiện nay là 6 tổ chức, 13 công chứng viên, hoạt động tại 4/8 địa phương cấp huyện. Các tổ chức hành nghề công chứng hoạt động cơ bản ổn định, phát triển theo chiều hướng chuyên nghiệp hoá, trở thành một nghề, một ngành chuyên môn sâu; đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tăng nguồn thu ngân sách của địa phương, giải quyết việc làm cho nhiều người lao động; đáp ứng nhu cầu của Nhân dân và Doanh nghiệp trên địa bàn, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi và tin cậy cho hoạt động đầu tư, kinh doanh, thương mại của tỉnh.
Tuy nhiên, so với cả nước thì hoạt động hành nghề công chứng ở tỉnh Quảng Bình chưa thực sự phát triển mạnh, việc xã hội hoá hoạt động công chứng ở tỉnh Quảng Bình đang còn chậm; số lượng tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên và nguồn bổ nhiệm công chứng viên còn hạn chế. Số lượng tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh cũng như trên từng đơn vị quy hoạch- cấp huyện đều chưa đạt chỉ tiêu; chưa phát triển mạng lưới tổ chức hành nghề công chứng rộng khắp và phân bố hợp lý gắn với địa bàn dân cư theo mục tiêu của Quy hoạch đề ra. Để đạt chỉ tiêu theo quy hoạch thì đến năm 2020, tỉnh ta còn phải phát triển thêm 11 tổ chức hành nghề công chứng và còn 4/8 địa phương cấp huyện chưa có tổ chức hành nghề công chứng. Trong hoạt động, chưa tách bạch được giữa hoạt động công chứng và chứng thực, giữa quản lý nhà nước và dịch vụ công.
Đối với nhiệm vụ QLNN về Luật sư, Sở Tư pháp đã tham mưu UBND tỉnh ban hành và thực hiện các Kế hoạch, đề án để nâng cao chất lượng đoàn Luật sư và các tổ chức hành nghề Luật sư. Sở đã thực hiện kịp thời việc thẩm định hồ sơ, cấp, thu hồi Giấy đăng ký hoạt động, cung cấp thông tin về việc đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư; thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin báo cáo; tham mưu, đề xuất với Ủy ban nhân dân tỉnh các biện pháp hỗ trợ phát triển nghề Luật sư tại địa phương; thực hiện kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức, hoạt động của Đoàn luật sư, tổ chức hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Sở đã ký kết và thực hiện Quy chế phối hợp với Đoàn Luật sư để vừa nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của Sở Tư pháp, vừa phát huy vai trò tự quản của Đoàn Luật sư trên tinh thần phối hợp, hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và sự tự chịu trách nhiệm của mỗi bên, không “lấn sân”, không làm thay. Chất lượng của Đoàn Luật sư và các tổ chức hành nghề Luật sư phụ thuộc phần lớn, có tính chất quyết định vào vai trò tự quản của Luật sư và Đoàn Luật sư.Tuy nhiên chất lượng của đội ngũ luật sư chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, sự tham gia tố tụng của luật sư vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu tranh tụng tại phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp. Sự tích cực, chủ động của luật sư trong hoạt động nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề chưa cao. Tuy số lượng luật sư ở trên địa bàn tỉnh trong những năm gần đây tăng lên đáng kể, song vẫn chưa hình thành được đội ngũ các luật sư chuyên sâu về tranh tụng hoặc tư vấn chuyên sâu trong từng lĩnh vực. Các luật sư chủ yếu hành nghề trong hai lĩnh vực dân sự và hình sự. Trong các lĩnh vực pháp luật khác như hành chính, lao động, kinh tế... tỷ lệ vụ việc mà các luật sư tham gia còn thấp. Quy mô tổ chức hành nghề luật sư còn nhỏ, chưa phát triển theo hướng chuyên nghiệp; chưa có Luật sư có trình độ chuyên môn và ngoại ngữ giỏi, có khả năng làm việc trong môi trường pháp lý quốc tế, hoạt động chuyên sâu về các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư quốc tế nên việc phát triển tổ chức hành nghề luật sư trong lĩnh vực này còn gặp khó khăn.
Trong lĩnh vực giám định Tư pháp, để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, Sở đã thường xuyên chủ trì, phối hợp với cơ quan chuyên môn có liên quan thực hiện việc đăng ký hoạt động của Văn phòng giám định tư pháp; tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho giám định viên; phối hợp trình Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập, củng cố, kiện toàn tổ chức giám định tư pháp công lập trong lĩnh vực pháp y, bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên, lựa chọn, lập danh sách để trình Ủy ban nhân dân tỉnh công bố danh sách người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc ở địa phương; phối hợp đánh giá về tổ chức, chất lượng hoạt động giám định tư pháp; đề xuất với Ủy ban nhân nhân tỉnh các giải pháp để bảo đảm số lượng, chất lượng của đội ngũ người giám định tư pháp đáp ứng kịp thời, có chất lượng yêu cầu giám định của hoạt động tố tụng; thực hiện kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo theo quy định. Nhìn chung, hiệu quả hoạt động của các tổ chức giám định từng bước được nâng lên, cơ bản đáp ứng yêu cầu hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và nhu cầu khác của xã hội. Tuy nhiên các giám định viên này còn gặp nhiều khó khăn, nhất là về phương tiện, trang thiết bị, kỹ thuật; việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giám định tư pháp vẫn còn hạn chế. Một số phương tiện, trang thiết bị đặc thù để phục vụ cho hoạt động giám định chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là giám định thương tích, tử thi, hóa học, sinh học...
Là cơ quan thường trực của Hội đồng phối hợp liên ngành trong hoạt động tố tụng, Sở Tư pháp đã trình UBND tỉnh kiện toàn, ban hành quy chế hoạt động của Hội đồng phối hợp. Thường xuyên chỉ đạo Trung tâm TGPL phối kết hợp chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tố tụng, Trại tạm giam, Nhà tạm giữ và các cơ quan, tổ chức liên quan ngay từ khi phát hiện người được TGPL các cơ quan liên quan phải kịp thời hướng dẫn người được TGPL và liên hệ với Trung tâm TGPL để thực hiện TGPL. Nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông về TGPL, xác định rõ trách nhiệm của các ngành liên quan, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tăng cường năng lực thực hiện TGPL cho người thực hiện TGPL. Chất lượng vụ việc do Trợ giúp viên pháp lý và luật sư cộng tác viên thực hiện tại các cơ quan tiến hành tố tụng được bảo đảm đồng thời đã giúp cho người được TGPL dễ dàng tiếp cận và sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; góp phần giúp các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử vụ án được khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế oan sai, tăng cường pháp chế và mang lại những tác động tích cực trong quá trình thực hiện cải cách
Nếu trung tâm của CCTP là tòa án với trọng tâm là hoạt động xét xử và đột phá của CCTP là mở rộng tranh tụng dân chủ, thì có thể nói, ngành Tư pháp chỉ đứng ở vị trí bổ trợ, nói chính xác là giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước các tổ chức bổ trợ (như luật sư, giám định tư pháp, công chứng, trợ giúp pháp lý) với tư cách là “thẩm phán phòng ngừa”, bổ trợ cho thẩm phán xét xử. Chính hoạt động bổ trợ này cũng đã tác động và góp phần thực hiện mục tiêu của công cuộc CCTP. Tạo điều kiện cho cơ quan xét xử trong hoạt động thu thập chứng cứ, bảo đảm khách quan, công minh, nhanh chóng, chính xác, dân chủ khi giải quyết vụ án. Là cơ quan hành chính nhà nước, ngoài thực hiện cải cách hành chính, Sở Tư pháp còn phải thực hiện các nhiệm vụ cải cách Tư pháp. Tuy nhiên tình trạng trong thời gian qua các quy định của Luật, Nghị định của Chính phủ, Đề án của Thủ tướng Chính phủ giao bổ sung nhiệm vụ nhưng không bổ sung hoặc bổ sung không đủ, không kịp thời nguồn lực (biên chế, kinh phí) cho ngành Tư pháp để thực hiện các nhiệm vụ mới. Mặt khác thể chế trong lĩnh vực bổ trợ Tư pháp thường xuyên thay đổi, thiếu ổn định, nhất quán, nhiều chủ trương xã hội hóa chưa thực sự phù hợp với thực tiễn của nhiều địa phương, nên sự đồng thuận chưa cao và nhiều bất cập khác đã gây khó khăn và ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác, làm giảm hiệu lực thi hành của văn bản pháp luật và giảm hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp.
Nguyễn Thị Lài
TUV- Giám đốc Sở Tư pháp
Các tin khác
- Sự quản lý nhà nước và tính tự quản của luật sư (14/06/2017)
- Hiệp hội Công chứng viên - Tổ chức Xã hội - nghề nghiệp của các Công chứng viên (07/06/2017)
- Thừa phát lại nên được tổ chức và hoạt động trong phạm vi nào? (07/06/2017)
- Từ thực tiễn thi hành kiến nghị hoàn thiện Luật Hòa giải ở cơ sở (22/05/2017)
- Bảo đảm đầu tư kinh doanh ở Việt Nam (19/05/2017)
- Để hoạt động công chứng đạt kết quả cao hơn trong thời gian tới (11/04/2017)
- Tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2016 trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (11/04/2017)
- Quyền của phụ nữ trong các bản Hiến pháp Việt Nam (11/04/2017)
- Quy định về phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí (16/03/2017)
- Cơ chế phối hợp trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (13/03/2017)









