Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 1

  • Hôm nay 28

  • Tổng 9.204.148

Một số lỗi thường gặp khi soạn thảo, ký kết hợp đồng

10:51, Thứ Ba, 8-1-2019

Xem với cỡ chữ : A- A A+

Hợp đồng là hình thức giao dịch quan trọng trong đời sống của chúng ta. Hầu hết các giao dịch thường ngày dù có mục đích kinh doanh hay chỉ để đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thì đều liên quan đến hợp đồng.

Pháp luật về hợp đồng được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm… Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự là những vấn đề chung, mang tính nguyên tắc, được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng có mục đích kinh doanh hay hợp đồng nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Trên cơ sở các quy định chung đó, tuỳ thuộc vào nội dung của các giao dịch, các luật chuyên ngành có những quy định riêng về hợp đồng để điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực đó.
Để không làm ảnh hưởng đến quyền lợi, lợi ích của các bên, quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng các bên cần chú ý đến nhiều nội dung như: Hình thức hợp đồng, các điều khoản trong hợp đồng, tư cách của người ký, số lượng, chất lượng, quy cách của đối tượng hợp đồng... để không xảy ra những tranh chấp hoặc thiệt hại đáng tiếc.
 Thời gian qua, quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng, cơ bản các chủ thể thực hiện đúng quy định của pháp luật, bên cạnh đó cũng không ít trường hợp do không không hiểu biết về hợp đồng hoặc do cẩu thả nên khi soạn thảo, ký kết hợp đồng đã có những sai sót cả nội dung và hình thức dẫn đến việc tranh chấp làm thiệt hại cả hàng chục, hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đồng cho các chủ thể. Trong bài viết này xin nêu lên một số lỗi thường gặp trong quá trình soạn thảo, ký kết hợp đồng như sau:
Thứ nhất, về hình thức hợp đồng
Theo quy định của Bộ luật Dân sự, quá trình ký kết hợp đồng các bên có quyền tự do lựa chọn hình thức hợp đồng, có thể bằng văn bản hoặc bằng lời nói. Trong một số trường hợp quan trọng, pháp luật bắt buộc phải thực hiện bằng văn bản và phải có công chứng hoặc chứng thực thì phải tuân theo các quy định đó.
Trong thực tế, do sự quen biết nhau và để thuận tiện trong quá trình thực hiện một số công việc các chủ thể thường chỉ thể hiện qua lời nói. Mặc dù đây là hình thức được pháp luật quy định, song chỉ nhất trí thông qua lời nói nên khi có tranh chấp xảy ra thường rất khó khăn cho cơ quan tiến hành giải quyết tranh chấp. Do vậy, cách tốt nhất để bảo vệ quyền lợi của bản thân và để làm cơ sở cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết là việc ký kết hợp đồng phải thể hiện bằng văn bản, trong đó nghi rõ quyền và nghĩa vụ của các bên.
Đối với một số hợp đồng quan trọng, giá trị lớn, tài sản đặc biệt, hoặc đối tượng hợp đồng phức tạp thì nên đến tổ chức hành nghề công chứng hoặc UBND cấp xã, cấp huyện để công chứng hoặc chứng thực. Khi thực hiện hành vi công chứng hoặc chứng thực thì cán bộ Tư pháp hoặc công chứng viên sẽ xem xét lại nội dung mà hai bên đã soạn thảo, xem có đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý để có sự hướng dẫn, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung nội dung, từ đó đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể tham gia ký kết hợp đồng.
Thứ hai, văn bản pháp luật làm căn cứ ký kết hợp đồng
Hiện nay, các văn bản pháp luật làm căn cứ để ký kết hợp đồng là: Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005, Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Bộ luật Hàng hải. Tuy nhiên, có một số hợp đồng, các chủ thể lại căn cứ vào Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế số 24-LCT/HĐNN8 do Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 25/9/1989. Việc áp dụng Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế này là không đúng quy định của pháp luật. Vì Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 đã hết hiệu lực theo Nghị quyết số 45/2005/NQ-QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự năm 2005. Từ việc căn cứ văn bản để ký kết hợp đồng sai do đó áp dụng các quy định pháp luật cụ thể đối với từng điều khoản của loại hợp đồng sai, dẫn đến hợp đồng đã ký kết sẽ bị tuyên vô hiệu hoặc không được pháp luật bảo vệ.
Thứ ba, về năng lực chủ thể giao kết hợp đồng:
Người tham gia ký kết hợp đồng cần phải có thẩm quyền ký kết và đã được pháp luật quy định. Đối với doanh nghiệp, muốn ký kết hợp đồng thì phải là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, nếu không phải người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nhưng vẫn đứng ra thay mặt doanh nghiệp ký các hợp đồng mà không có văn bản ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc có văn bản ủy quyền nhưng văn bản ủy quyền này đã hết hạn hoặc người được ủy quyền ký kết các hợp đồng vượt quá phạm vi ủy quyền về giá trị và thẩm quyền thì hợp đồng đó sẽ bị tuyên bố vô hiệu.
Thứ tư, một số nội dung của hợp đồng không quy định chặt chẽ:
Một số hợp đồng có sai sót về nội dung hợp đồng như: Không quy định về thời gian thực hiện hợp đồng, thời gian thực hiện nghĩa vụ thanh toán không cụ thể, hoặc không nêu rõ bắt đầu từ thời điểm nào, thời điểm chuyển giao rủi ro, chuyển giao quyền sở hữu, quyền quản lý về tài sản. Có hợp đồng thì không quy định về thỏa thuận về phạt vi phạm hợp đồng hoặc không thỏa thuận về một số nghĩa vụ thanh toán do bên nào chịu, như chi phí bốc dỡ hàng hóa, lưu kho bãi... Do đó, quá trình thực hiện sẽ dễ nảy sinh tranh chấp, kiện tụng, khiến cho việc kinh doanh không được ổn định.
Trần Tiến Hải

Các tin khác