Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 6

  • Hôm nay 234

  • Tổng 9.208.004

Các quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh có gì mới?

8:4, Thứ Tư, 21-12-2016

Xem với cỡ chữ : A- A A+
 

          Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Đối với ngành, nghề mà pháp luật về đầu tư và pháp luật có liên quan quy định phải có điều kiện thì doanh nghiệp chỉ được kinh doanh ngành, nghề đó khi có đủ điều kiện theo quy định. Điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác.. Cấm hoạt động kinh doanh gây phương hại đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam và sức khoẻ của nhân dân, làm huỷ hoại tài nguyên, phá huỷ môi trường.

          Tại Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014, bên cạnh quy định mục tiêu của việc quản lý nhà nước đối với các hoạt động đầu tư kinh doanh những ngành, nghề có điều kiện (khoản 1) và danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (khoản 2) thì khoản 3 quy định rõ: “Điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề quy định tại khoản 2 Điều này được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh”. Như vậy, chỉ có Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ mới có thẩm quyền ban hành các văn bản quy định về vấn đề này hoặc các nội dung trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Khác với trước đây, các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và các điều kiện kinh doanh đối với các ngành, nghề này được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Theo thống kê từ các quy định của pháp luật trước đây cho thấy,  có khoảng 386 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được quy định phân tán tại 391 văn bản pháp luật. Gồm 56 luật, 8 Pháp lệnh, 115 Nghị định, 176 Thông tư, 26 Quyết định của các Bộ trưởng và 2 văn bản của Bộ. Các điều kiện kinh doanh được thể hiện đa dạng dưới nhiều hình thức như giấp phép, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, xác nhận vốn pháp định, giấy đăng ký, chấp thuận... Phần lớn các điều kiện kinh doanh được quy định dưới hình thức giấy phép hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. Trong đó, có 110 ngành nghề yêu cầu phải có giấy phép kinh doanh với 171 loại giấy phép kinh doanh; có 83 ngành nghề yêu cầu phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh với 62 loại giấy chứng nhận; có 44 loại ngành nghề cần có chứng chỉ hành nghề với 53 loại chứng chỉ hành nghề; có 11 ngành nghề yêu cầu vốn pháp định và có 345 ngành nghề yêu cầu phải có chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
          Theo quy địnhcủa Luật Đầu tư năm 2014,  những điều kiện kinh doanh và số lượng ngành, nghề kinh doanh có điều kiện đã giảm đáng kể. Theo quy định tại Phụ lục IV của Luật Đầu tư năm 2014, thì chỉ còn 267 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện (đã giảm bớt 119 ngành, nghề). Tuy nhiên, theo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư vừa được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 22/11/2016, thì  hiện nay chỉ còn 243 ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Trong đó, lĩnh vực  Nông nghiệp phát triển nông thôn có 32 ngành nghề;  Lĩnh vực  Giáo dục - Đào tạo có 9 ngành nghề; Lĩnh vực Thông tin truyền thông có 16 ngành nghề; Lĩnh vực Xây dựng có 17 ngành nghề; Lĩnh vực  Giao thông Vận tải có 30 ngành nghề; Lĩnh vực  Lao động - Thương binh và xã hội có 9 ngành nghề; Lĩnh vực Công Thương có 27 ngành nghề; Lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng có 27 ngành nghề; Lĩnh vực an ninh trật tự có 12 ngành nghề;  Lĩnh vực Y tế có 17 ngành nghề; Lĩnh vực Khoa học và Công nghệ có 7 ngành nghề; Lĩnh vực Văn hóa Thông tin có 17 ngành nghề: Lĩnh vực Tài nguyên – Môi trường có 16 ngành nghề và Lĩnh vực Tư pháp có 7 ngành nghề kinh doanh có điều kiện, đó là: Hành nghề luật sư, điều kiện kinh doanh: chứng chỉ hành nghề luật sư; Giấy đăng ký hoạt động (đối với tổ chức hành nghề luật sư) hoặc Giấy đăng ký hành nghề luật sư (đối với luật sư hành nghề với tư cách cá nhân); Hành nghề công chứng điều kiện kinh doanh: Thẻ công chứng viên; Giấy phép thành lập văn phòng công chứng;  Quyết định thành lập phòng công chứng. Hành nghề Giám định tư pháp trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, cổ vật, di vật, bản quyền tác giả, điều kiện kinh doanh: Quyết định bổ nhiệm giám định viên tư pháp; Quyết định cho phép thành lập Văn phòng giám định tư pháp; Giấy đăng ký hoạt động Văn phòng giám định tư pháp. Hành nghề  Dịch vụ trọng tài thương mại, điều kiện kinh doanh: Giấy phép thành lập trung tâm trọng tài thương mại; Giấy đăng ký hoạt động; Hành nghề thừa phát lại; Hành nghề quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã trong quá trình giải quyết phá sản và hành nghề  Bán đấu giá tài sản.
          Việc giảm bớt các ngành nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh nhằm thực hiện Mục tiêu và nhiệm vụ chung mà Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016 - 2017, định hướng đến năm 2020 đã đặt ra, đó là phấn đấu cải thiện cả về điểm số và vị trí xếp hạng về môi trường kinh doanh. Các chỉ tiêu về môi trường kinh doanh đạt tối thiểu bằng trung bình của nhóm nước ASEAN 4.(Bốn nước này gồm Singapore, Malaysia, Thái Lan và Philippines).
M.H

Các tin khác