Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 2

  • Hôm nay 1050

  • Tổng 9.211.442

Tìm hiểu về quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức trong công tác phòng, chống tham nhũng

9:36, Thứ Tư, 6-7-2016

Xem với cỡ chữ : A- A A+
Trong những năm qua, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội, trật tự, an ninh xã hội được giữ vững, đời sống nhân dân ngày một nâng cao. Tuy nhiên, chúng ta vẫn đang đứng trước những nguy cơ và thách thức lớn. Tình hình tham nhũng diễn ra rất phức tạp ở nhiều lĩnh vực; quy mô, tính chất ngày càng nghiêm trọng. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đánh giá: “tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta”. 

Trong nhiều văn kiện, hội nghị của Đảng và Nhà nước ta cũng đã thể hiện quyết tâm cao trong việc đấu tranh nhằm đẩy lùi, ngăn chặn, hạn chế đến mức thấp nhất các hậu quả xấu của tệ nạn tham nhũng như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”, Kết luận Hội nghị Trung ương 5 khóa XI về Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Quốc hội đã ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Phòng chống tham nhũng năm 2007, năm 2012. Chính phủ đã thông qua Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam đến năm 2020 và nhiều văn bản hướng dẫn, chỉ đạo khác.
Một trong những nhiệm vụ cấp bách, quan trọng hàng đầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được xác định trong quan điểm chỉ đạo của Đảng đó là đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng. Và để thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về “kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng”, Luật phòng, chống tham nhũng đã đề ra các giải pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng gồm: (1) công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; (2) xây dựng, ban hành và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn; quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức; chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức; (3) minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức; (4) trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, đơn vị do mình phụ trách; (5) cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán góp phần phòng ngừa tham nhũng.
Trong khuổn khổ bài viết này, người viết xin đề cập một số nội dung về quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức là các chuẩn mực xử sự của cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội, bao gồm những việc phải làm hoặc không được làm phù hợp với đặc thù công việc của từng nhóm cán bộ, công chức, viên chức và từng lĩnh vực hoạt động công vụ nhằm bảo đảm sự liêm chính và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức. Việc ban hành và thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi nhiệm vụ, công vụ; làm căn cứ để các cơ quan, đơn vị được phân cấp quản lý xử lý trách nhiệm khi cán bộ, công chức, viên chức vi phạm các chuẩn mực xử sự trong thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội, là căn cứ để các tổ chức và nhân dân giám sát việc chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức. Luật Phòng chống tham nhũng quy định quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức bao gồm:
Thứ nhất, những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm gồm: Cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong khi giải quyết công việc; thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; làm tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về các công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, những công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc mình tham gia giải quyết; kinh doanh trong lĩnh vực mà trước đây mình có trách nhiệm quản lý sau khi thôi giữ chức vụ trong một thời hạn nhất định theo quy định của Chính phủ; sử dụng trái phép thông tin, tài liệu của cơ quan, tổ chức, đơn vị vì vụ lợi. Ngoài ra còn quy định người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợ hoặc chồng của những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước; không được bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán - tài vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; không được để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi do mình quản lý trực tiếp.v.v..
Đây là những quy định hết sức cần thiết để ngăn ngừa những nguy cơ xảy ra tham nhũng và tăng cường tính liêm chính, bảo đảm sự công tâm, khách quan của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động công vụ. Những quy định này nhằm đề cao sự đúng đắn và đạo đức nghề nghiệp của người cán bộ, công chức; vừa đảm bảo ngăn ngừa trực tiếp về thái độ, hành vi của họ trong lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi tham nhũng, đồng thời gián tiếp không cho họ có cơ hội lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thông qua người thân của họ để thực hiện hành vi tham nhũng; không cho họ có điều kiện “vừa đá bóng, vừa thổi còi” đối với nhiệm vụ họ đang quản lý kể cả khi họ đã nghỉ chế độ.  
Thứ hai, thực tiễn cho thấy, đa số các vụ việc tham nhũng, dấu hiệu tham nhũng đều được phát hiện thông qua việc tố giác của người dân, qua cơ quan báo chí, qua công tác thanh tra, kiểm tra. Trong khi đó, những hành vi tham nhũng hay biểu hiện tham nhũng trong chính cơ quan, đơn vị thì không được phát giác kịp thời, điều này cho thấy có sự biểu hiện của tình trạng né tránh, nể nang, thậm chí là thiếu trách nhiệm, che dấu đối với hành vi tham nhũng. Tuy nhiên, pháp luật đã quy định một trong những nghĩa vụ của cán bộ công chức là “Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước” nhằm đảm bảo nguyên tắc “mọi hành vi tham nhũng đều phải được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh”. Luật Phòng chống tham nhũng đã đưa quy định về nghĩa vụ báo cáo và xử lý báo cáo về dấu hiệu tham nhũng đối với cán bộ, công chức, viên chức, đó là khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình làm việc thì cán bộ, công chức, viên chức phải báo cáo ngay với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đó; trường hợp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan đến dấu hiệu tham nhũng đó thì báo cáo với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp.
Thứ ba, từ lâu việc tặng quà và nhận quà tặng được coi là vấn đề mang tính chất xã hội, biểu hiện tình cảm hay sự biết ơn của con người trong các quan hệ xã hội, là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, có ý nghĩa nhân văn cao cả, từ trước đến nay nó được điều chỉnh bởi các quy phạm đạo đức - xã hội là chủ yếu. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp đã bị lợi dụng việc tặng quà và nhận quà tặng để thực hiện hành vi tiêu cực. Vì vậy, Luật Phòng chống tham nhũng đã đưa quy định về tặng quà và nhận quà tặng của cán bộ, công chức, viên chức để điều chỉnh, theo đó Luật quy định: Cơ quan, tổ chức, đơn vị không được sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước làm quà tặng, trừ trường hợp pháp luật có quy định; cán bộ, công chức, viên chức không được nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình; nghiêm cấm lợi dụng việc tặng quà, nhận quà tặng để hối lộ hoặc thực hiện các hành vi khác vì vụ lợi.
Để cụ thể hóa, hướng dẫn việc triển khai thực hiện quy định này, ngày 10/5/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 64/2007/QĐ-TTg ban hành Quy chế về việc tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng của cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách nhà nước và cán bộ, công chức, viên chức, trong đó đã quy định: Các cơ quan, đơn vị và cá nhân chỉ được sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước hoặc nguồn gốc từ ngân sách nhà nước để làm quà tặng trong những trường hợp mà chế độ nhà nước đã quy định cho phép. Việc tặng quà phải thực hiện đúng quy định về chế độ, tiêu chuẩn, đối tượng; cơ quan, đơn vị tặng quà phải hạch toán kế toán theo đúng quy định của pháp luật hiện hành và thực hiện công khai trong cơ quan, đơn vị theo chế độ quy định.
Đối với việc nhận quà tặng thì cáccơ quan, đơn vị chỉ được nhận quà tặng theo đúng quy định của pháp luật. Quà tặng phải được công khai, quản lý và sử dụng theo đúng các quy định. Đối với quà tặng không đúng chế độ, tiêu chuẩn, đối tượng thì đại diện cơ quan, đơn vị phải từ chối và giải thích rõ lý do với người tặng quà. Trong trường hợp không thể từ chối được, cơ quan, đơn vị phải tổ chức quản lý, xử lý quà tặng theo quy định. Cán bộ, công chức, viên chức chỉ được nhận quà tặng theo đúng quy định của pháp luật và phải ký xác nhận; phải kê khai thu nhập trong trường hợp pháp luật có yêu cầu. Đối với quà tặng không đúng chế độ, tiêu chuẩn, đối tượng thì cán bộ, công chức, viên chức phải từ chối và giải thích rõ lý do với người tặng quà. Trong trường hợp không thể từ chối được, cán bộ, công chức, viên chức phải báo cáo thủ trưởng cơ quan, đơn vị mình để xử lý theo quy định. Đối với quà tặng từ họ hàng, người thân trong gia đình mà những người đó không có mối quan hệ về lợi ích liên quan đến hoạt động công vụ của người được tặng quà và quà tặng từ những cơ quan, đơn vị, cá nhân không liên quan đến hoạt động công vụ của người được tặng quà thì cán bộ, công chức, viên chức được tặng quà không phải báo cáo với cơ quan, đơn vị; trong trường hợp pháp luật có yêu cầu kê khai thu nhập thì cán bộ, công chức, viên chức phải thực hiện kê khai theo đúng quy định.
                                                                                                                                                                Đình Huân

Các tin khác