Chi tiết tin - Sở Tư pháp
Miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015
Miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt là các chế định quan trọng trong luật hình sự Việt Nam thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội và hành vi do họ thực hiện, đồng thời qua đó nhằm động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng và giúp họ trở thành người có ích cho xã hội.
Ngày 27/11/2015 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua BLHS năm 2015 và đã có nhiều sửa đổi, bổ sung về hai chế định miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt.Hai chế định này chỉ có thể áp dụng khi có đầy đủ các căn cứ pháp lý và những điều kiện cụ thể do pháp luật hình sự quy định. Do đó, việc phân biệt hai chế định này có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Miễn trách nhiệm hình sự và căn cứ miễn trách nhiệm hình sự
Miễn trách nhiệm hình sự là việc không bắt buộc người phạm tội phải chịu trác nhiệm hình sự về tội mà họ đã thực hiện.
Theo quy định tại Điều 29 BLHS năm 2015 về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự, bao gồm: “1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;b) Khi có quyết định đại xá. 2. Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;c) Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận. 3. Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.”
Điểm mới của BLHS năm 2015 so với Bộ luật hình sự năm 1999 về căn cứ có thể miễn trách nhiệm hình sự đó là bổ sung tình tiết lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận và bổ sung tại khoản 3 Điều 29 về những trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Miễn hình phạt và căn cứ miễn hình phạt
Miễn hình phạt là không buộc người bị kết án phải chịu hình phạt về tội họ đã thực hiện.
Theo Điều 59 BLHS năm 2015 quy định về miễn hình phạt: “Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 của Bộ luật này mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự”.Điều 54 BLHS năm 2015 quy định Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng khi có một trong các căn cứ:“1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này; 2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.”
So với quy định của BLHS năm 1999 thì chế định miễn hình phạt được quy định tại BLHS năm 2015 có điểm mới đó là người phạm tội nếu được miễn hình phạt theo quy định tại Điều 59 BLHS năm 2015 thì phải thỏa mãn điều kiện được quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 54 BLHS năm 2015, tức là người phạm tội phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 và phải là người giúp sức phạm tội lần đầu trong vụ án đồng phạm mà có vai trò không đáng kể thì mới được miễn hình phạt.
Tóm lại, với các quy phạm của chế định miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt có tính chất nhân đạo như trên, nhà nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho họ sớm thích nghi với các yêu cầu của pháp luật để trở lại cuộc sống bình thường trong cộng đồng xã hội, phấn đấu là người lương thiện và có ích cho gia đình và xã hội.
Trọng Đạt
Các tin khác
- Ngành Tư pháp Quảng Bình: Năm mới cần nỗ lực, cố gắng nhiều hơn (31/01/2018)
- Hàng hóa mua bán, trao đổi qua biên giới được quy định như thế nào? (01/02/2018)
- Tìm hiểu quy định của pháp luật về việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến tài sản của vợ chồng (16/01/2018)
- Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong xây dựng (25/01/2018)
- Một số vấn đề về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở (16/01/2018)
- Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (16/01/2018)
- Mở rộng về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo Luật Đất đai năm 2013 (17/01/2018)
- Hoạt động đối ngoại của Hội Luật gia Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế (04/01/2018)
- Sự cần thiết phải đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật (04/01/2018)
- Tìm hiểu về Bộ chỉ số chấm điểm CCHC cấp tỉnh (04/01/2018)









