Chi tiết tin - Sở Tư pháp
Vướng mắc từ một vụ, việc hòa giải ở cơ sở
Hoà giải ở cơ sở là nét đẹp truyền thống đạo lý của dân tộc Việt Nam, là hoạt động mang tính tự nguyện, tính xã hội và nhân văn sâu sắc. Hoạt động hòa giải ở cơ sở về bản chất là hướng dẫn, giúp đỡ thông qua việc thuyết phục, vận động các bên đi đến thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật dựa trên nguyên tắc tôn trọng ý chí, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước và lợi ích công cộng.
Vì vậy hòa giải ở cơ sở đã khẳng định vai trò to lớn, ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần tăng cường tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, kịp thời ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo đảm ổn định, trật tự, an toàn xã hội, giảm bớt các vụ việc phải chuyển đến Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, tiết kiệm thời gian, kinh phí cho Nhà nước và nhân dân, từ đó góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 ra đời là một bước tiến quan trọng cho hoạt động hòa giải ở cơ sở, đó là hoạt động mà hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định.
Tuy nhiên, hoạt động này trong thực tế vẫn còn những vướng mắc cần được bàn luận để góp phần giải quyết tốt hơn những vấn đề đặt ra trong hoạt động hòa giải ở cơ sở. Từ một vụ, việc cụ thể là: Hai anh A và B ở cùng xóm với nhau, do có những mâu thuẫn, hiềm khích trong cuộc sống dẫn đến đánh nhau và có gây thương tích. Vậy vụ, việc có thuộc phạm vi hòa giải hay không?
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 quy định “Việc hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật, trừ các trường hợp sau đây: Mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, giao dịch dân sự mà theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự không được hòa giải; vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính; mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy định pháp luật.”
Phạm vi hòa giải ở cơ sở cũng được hướng dẫn cụ thể hơn tại Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (NĐ 15). Theo đó, tại Điều 5 Nghị định này quy định rõ về các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật được hoặc không được thực hiện hòa giải.
Tuy nhiên, đối với nội dung “được hòa giải đối với các vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật những vi phạm đó chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính” và “không được hòa giải đối với vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính” được quy định tại Điều 5 của NĐ15 để áp dụng cho vụ, việc trên là có khó khăn. Cụ thể là, làm sao xác định được vụ việc trên là vi phạm pháp luật chưa đến mức bị hoặc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính để tiếp nhận hay từ chối vụ việc hòa giải? Liệu hòa giải viên có khả năng tự nhận định và đủ thẩm quyền quyết định không? Cách thức nhận định như thế nào? Và nếu nhận định không đúng, dẫn đến vẫn tiến hành hòa giải đối với vi phạm pháp luật phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính hoặc từ chối vụ việc vi phạm chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính thì sẽ xử lý hậu quả xảy ra như thế nào?
Liên quan đến các câu hỏi trên, hiện nay tại Điều 7, Nghị định số 15/2014/NĐ-CP có hướng dẫn cách thức xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở là “Trong trường hợp chưa xác định được vụ, việc có thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở hay không, thì hòa giải viên đề nghị công chức Tư pháp – Hộ tịch hướng dẫn”. Nhưng cách thức phối hợp, đề nghị công chức Tư pháp-Hộ tịch hướng dẫn như thế nào vẫn chưa được quy định; và cơ sở để công chức Tư pháp – Hộ tịch khẳng định vụ việc có thuộc trường hợp phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính hay không chưa được hướng dẫn.
Đối với trường hợp này, để kết luận vụ việc đến mức xử lý hình sự và hành chính hay chưa thì phải tuân thủ những trình tự tố tụng theo quy định, như: phải khởi tố vụ án để điều tra làm rõ hành vi của mỗi bên, phải thực hiện giám định để xác định tỷ lệ thương tích,… Tương tự đó, để xử phạt vi phạm hành chính, cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền phải lập biên bản để xác định hành vi vi phạm mới đủ cơ sở để xử lý. Do đó, nếu hòa giải viên hoặc công chức Tư pháp – Hộ tịch chỉ tự nhận định một cách chủ quan là rất khó khăn.
Nên chăng vụ, việc như trên xảy ra, thì hòa giải viên vẫn có thể hòa giải đối với mâu thuẫn, tranh chấp về mặt dân sự giữa các bên; pháp luật chỉ không cho phép hòa giải để miễn trừ (loại bỏ) trách nhiệm về hình sự hoặc hành chính do hành vi vi phạm pháp luật gây ra. Các mâu thuẫn, tranh chấp về dân sự cần khuyến khích hòa giải để các bên hàn gắn tình cảm, chấm dứt hiềm khích, thù oán – những yếu tố có thể làm phát sinh những mâu thuẫn, xung đột mới. Đây cũng chính là mục đích cốt lõi mà pháp luật về hòa giải ở cơ sở hướng đến. Trong trường hợp nêu trên, nếu hòa giải viên có thể hòa giải được các mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên thì cần được khuyến khích vì họ chỉ hòa giải về mặt dân sự, còn trách nhiệm pháp lý về mặt hình sự và hành chính với Nhà nước thì hòa giải viên không can thiệp. Có nghĩa là, người có hành vi vi phạm pháp luật, nếu được hòa giải về mặt dân sự rồi, thì họ vẫn phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu hành vi gây thương tích đó phải xử lý về hành chính hoặc hình sự.
Hòa giải ở cơ sở là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta đã được cụ thể hóa thành pháp luật. Hoạt động này đang được chính quyền các cấp đẩy mạnh thực hiện thông qua các hòa giải viên nhằm giải quyết các mẫu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ cơ sở trên cơ sở tự nguyện của các bên, qua đó góp phần ổn định an ninh, trật tự tại cơ sở. Với vụ, việc nêu trên; những quy định hiện tại của pháp luật về hòa giải ở cơ và suy nghỉ cá nhân của tác giả về cách giải quyết, rất mong được sự trao đỏi và chia sẽ của quý bạn đọc.
Lê Xuân Ninh
Các tin khác
- Hiệu quả từ thực hiện“Dân vận khéo” (28/09/2018)
- Những vướng mắc trong việc công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá là bất động sản (28/11/2018)
- Cần quan tâm hơn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về khiếu nại, tố cáo (13/09/2018)
- Hoàn thiện thể chế giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật (04/09/2018)
- Một số khó khăn, vướng mắc trong thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (04/09/2018)
- Đánh giá hiệu quả công tác phổ biến giáo dục pháp luật (04/09/2018)
- Để công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở khu vực biên giới đạt hiệu quả cao hơn (18/08/2018)
- Một số bất cập, vướng mắc giữa các quy định của pháp luật liên quan đến việc tiếp cận đất đai (16/07/2018)
- Quy định mới về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước (05/07/2018)
- Để quyền tiếp cận thông tin của người dân được thực hiện nghiêm túc (25/06/2018)









