Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 2

  • Hôm nay 963

  • Tổng 9.205.083

Một số bất cập, vướng mắc giữa các quy định của pháp luật liên quan đến việc tiếp cận đất đai

14:43, Thứ Hai, 16-7-2018

Xem với cỡ chữ : A- A A+
Luật Đầu tư năm 2014, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đã quy định trình tự, thủ tục trong việc tiếp cận đất đai theo hướng minh bạch, đơn giản hơn và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư, đặc biệt trong việc tiếp cận đất đai của người dân và doanh nghiệp để thực hiện các dự án đầu tư, sản xuất kinh doanh.

Theo đó, cơ quan nhà nước có liên quan thực hiện các thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với việc xem xét thẩm tra nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất của người dân và doanh nghiệp. Việc áp dụng đồng thời các thủ tục nêu trên sẽ giúp cắt giảm đáng kể thời gian thực hiện thủ tục hành chính do nhà đầu tư không phải tiến hành lần lượt từng thủ tục liên quan đến việc sử dụng đất như quy định hiện hành.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn còn một số bất cập, vướng mắc giữa các quy định của pháp luật liên quan đến việc tiếp cận đất đai của người dân và doanh nghiệp để thực hiện dự án đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ thể:
- Tại Khoản 1 Điều 33 Luật Đầu tư quy định về hồ sơ dự án đầu tư đơn giản, đặc biệt hồ sơ năng lực tài chính của nhà đầu tư. Báo cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư do nhà đầu tư lập, tự khai và tự chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của báo cáo. Tuy nhiên, tại Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư và các văn bản liên quan khác chưa có quy định, tiêu chí cụ thể nào để cơ quan thẩm định có thể đánh giá, lựa chọn các nhà đầu tư có năng lực thực sự.
- Tại Khoản 3 Điều 46 quy định thời gian giãn tiến độ đầu tư không quá 24 tháng. Tuy nhiên, thực tiễn trong công tác bồi thường, thu hồi, giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án đầu tư của nhiều dự án phải kéo dài hơn 24 tháng, hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn xử lý đối với trường hợp này.
- Tại Khoản 2, Điều 59 Luật Đất đai quy định: Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Tuy nhiên, tại Điều 32 Luật Đầu tư quy định đối với dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá, đấu thầu hoặc nhận chuyển nhượng, dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất (không quy định dự án của tổ chức, hay hộ gia đình, cá nhân) thì thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của UBND cấp tỉnh. Quy định trên chưa khả thi, nảy sinh vướng mắc trong thực tiễn triển khai.
- Tại Khoản 1, Điều 13 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định về lấy ý kiến các Bộ đối với dự án sử dụng đất tại đảo và xã, phường, thị trấn biên giới, ven biển: “Đối với dự án có vốn đầu tư trực tiếp của nhà đầu tư nước ngoài tại đảo và xã, phường, thị trấn biên giới, ven biển không thuộc trường hợp Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư thì trước khi xem xét chấp thuận chủ trương đầu tư, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi văn bản xin ý kiến của các Bộ theo quy định sau đây:
a) Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao đối với khu đất sử dụng tại đảo và xã, phường, thị trấn biên giới;
b) Bộ Quốc phòng đối với khu đất sử dụng tại xã, phường, thị trấn ven biển liền kề với khu đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, trừ trường hợp đã xác định khu vực cấm theo quy định;
c) Bộ Công an đối với khu đất sử dụng tại xã, phường, thị trấn ven biển liền kề với khu đất sử dụng vào mục đích an ninh”;”
Tuy nhiên, tại Khoản 4, Điều 25 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP quy định về lấy ý kiến thẩm định dự án đầu tư thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư: “Đối với dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài sử dụng đất tại đảo, xã, phường, thị trấn biên giới, ven biển thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến của cơ quan liên quan theo quy định của pháp luật về đất đai trong quá trình thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư, trừ dự án đầu tư thực hiện tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.”. Quy định trên không thống nhất về quy định phải xin ý kiến các Bộ, ngành đối với dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài thực hiện đầu tư tại khu công nghiệp, khu kinh tế. Cụ thể, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định phải xin ý kiến Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao còn Nghị định số 118/2015/NĐ-CP quy định không phải xin ý kiến.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện còn gặp một số bất cập, vướng mắc sau:
- Pháp luật về đầu tư và pháp luật về đất đai chưa có quy định thống nhất trong việc quyết định chủ trương đầu tư thực hiện dự án với kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện. Cụ thể: Dự án cần có trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện được phê duyệt mới quyết định chủ trương đầu tư hay vẫn quyết định chủ trương đầu tư trước sau đó mới phê duyệt bổ sung dự án vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện để làm căn cứ thu hồi đất, giao đất hoặc cho thuê, chuyển mục đích sử dụng đất. Đối với các dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng thì cần phải thông qua Hội đồng nhân dân tỉnh trước khi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định phê duyệt bổ sung vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện. Do vậy, để đảm bảo cho nhà đầu tư thực hiện đối với những dự án phát sinh trong năm nhưng chưa có trong kế hoạch sử dụng đất, đề nghị các cơ quan trung ương cần quy định cụ thể yêu cầu nhà đầu tư phải đăng ký bổ sung kế hoạch sử dụng đất trước khi quyết định chủ trương đầu tư.
- Luật Đầu tư năm 2014 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định trường hợp có nhiều hơn một nhà đầu tư nộp hồ sơ đề xuất đầu tư tại cùng một khu đất hoặc trùng phạm vi dự án nhưng thuộc khu vực đất chưa được giải phóng mặt bằng. Việc xử lý đối với vấn đề này chưa được hướng dẫn cụ thể về xây dựng tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư.

Đình Huân

Các tin khác