Chi tiết tin - Sở Tư pháp
Ngành Tư pháp thực hiện cải cách Tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị
Để thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49-NQ/TW), trên cơ sở Chương trình và hướng dẫn của Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương; của Tỉnh ủy Quảng Bình tại Kế hoạch số 12-KH/TU ngày 30/5/2006, Chương trình số 10-CTr/TU ngày 20/3/2012, Sở Tư pháp đã ban hành Kế hoạch số 394/KH-STP ngày 19/4/2006 về triển khai thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW giai đoạn 2006-2010, Kế hoạch số 333/KH-STP ngày 21/5/2012 thực hiện Chương trình trọng tâm của Tỉnh ủy về công tác cải cách tư pháp giai đoạn 2012 - 2016.
Ngoài ra, căn cứ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở tại các Luật chuyên ngành và văn bản hướng dẫn thi hành, Sở đã cụ thể hóa và đưa nội dung, nhiệm vụ thực hiện cải cách tư pháp thuộc phạm vi trách nhiệm của Sở vào các chương trình, kế hoạch công tác tư pháp giai đoạn, hàng năm của Sở, của Ngành, vào các kế hoạch chuyên đề theo từng lĩnh vực. Sở Tư pháp đã trình UBND tỉnh phê duyệt và tham mưu tổ chức thực hiện Đề án "Phát triển đội ngũ luật sư từ năm 2011 đến năm 2020”; Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp”; Đề án " Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020" trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; Kế hoạch triển khai Đề án phát triển và tăng cường năng lực đội ngũ đấu giá viên đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; Kế hoạch thực hiện Đề án của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng Trung tâm Lý lịch Tư pháp quốc gia và kiện toàn tổ chức thuộc Sở Tư pháp để xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch Tư pháp..., và các Kế hoạch, chương trình triển khai các văn bản chuyên ngành. Sở đã chủ trì, phối hợp với các sở, ngành có liên quan, với Đài Phát thanh- Truyền hình Quảng Bình, Báo Quảng Bình và các huyện, thị xã, thành phố thực hiện tuyên truyền, phổ biến nhiệm vụ Cải cách Tư pháp bằng nhiều hình thức khác nhau. Đồng thời, Sở đã chỉ đạo các phòng, tổ chức giúp việc, đơn vị trực thuộc trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động thực hiện các hình thức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các nội dung của Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 02/6/2005; Nghị quyết số 49-NQ-TW của Bộ Chính trị; Chương trình số 10-CTr/TU; Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 03/01/2014 của Ban Bí thư, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Kế hoạch của UBND tỉnh về triển khai thi hành Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Lồng ghép việc tuyên truyền, phổ biến, quán triệt nội dung của các văn bản nêu trên với các văn bản pháp luật trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự, dân sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính và văn bản trong lĩnh vực luật sư, giám định tư pháp, công chứng, chứng thực, trợ giúp pháp lý, bán đấu giá tài sản…thông qua các hội nghị giao ban triển khai công tác, hội nghị tập huấn cho các chức danh Tư pháp, cán bộ Tư pháp, hội nghị triển khai công tác của Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tỉnh...Nhờ vậy, nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp, các tầng lớp nhân dân đối với nhiệm vụ CCTP được nâng lên; cấp ủy Đảng, chính quyền ngày càng quan tâm hơn đối với nhiệm vụ cải cách tư pháp.
Nếu theo Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 2104/2012/QĐ-TTg, thì đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh phát triển 17 tổ chức hành nghề công chứng; theo Đề án phát triển đội ngũ luật sư đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh có 20 tổ chức hành nghề luật sư, có ít nhất 50 luật sư, trong đó 70% luật sư có trình độ Anh văn từ chứng chỉ B trở lên, có 02 luật sư thông tạo tiếng Anh và 03 luật sư có trình độ sau Đại học, phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 01 tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu về lĩnh vực thương mại có yếu tố nước ngoài. Đến nay trên địa bàn tỉnh có 37 luật sư, 22 tổ chức hành nghề luật sư, trong đó có 01 Công ty Luật (cả nước có 9.755 luật sư, 3.422 tổ chức hành nghề luật sư); có 02 tổ chức giám định (Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh và Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh); có 40 người người giám định theo vụ việc, 34 giám định viên tư pháp, 05 giám định viên tư pháp của ngành đặc thù (cả nước có 4.855 giám định viên); có 06 tổ chức hành nghề công chứng, có 13 công chứng viên đang hành nghề (cả nước có 1.874 công chứng viên và 876 tổ chức hành nghề công chứng); có 11 Trợ giúp viên pháp lý, 190 cộng tác viên và 10 tổ chức chức hành nghề luật sư đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý (cả nước có 572 trợ giúp viên pháp lý).
Đối với lĩnh vực công chứng, Sở đã tham mưu UBND tỉnh ban hành và trực tiếp ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ để thực hiện Luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành. Thường xuyên phối hợp với các ngành, địa phương để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong nghiệp vụ và trong thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng. Thông qua hoạt động công chứng, đặc biệt là công chứng các hợp đồng, giao dịch đã góp phần tích cực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức trong và ngoài nước khi tham gia giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại; phòng ngừa rủi ro và tranh chấp có thể xảy ra; đảm bảo an toàn pháp lý cho các giao dịch, làm lành mạnh hóa các quan hệ; góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; cung cấp chứng cứ cho các cơ quan tố tụng khi có tranh chấp hoặc vi phạm pháp luật xảy ra. Tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan xét xử trong quá trình thu thập chứng cứ, đảm bảo khách quan, công minh, nhanh chóng, chính xác khi giải quyết tranh chấp. Quan trọng hơn, hoạt động công chứng đã góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân; nâng cao trách nhiệm của công dân, tổ chức khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại; hình thành thói quen sử dụng phương tiện và hình thức hợp pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và bình đẳng với các đối tác trong các quan hệ giao dịch.
Đối với nhiệm vụ quản lý nhà nước về Lý lịch Tư pháp, trong đó có nhiệm vụ cấp phiếu lý lịch tư pháp và xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp từ 18 nguồn thông tin lý lịch tư pháp từ các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan khác có liên quan..., Sở đã tham mưu UBND ban hành các Kế hoạch và Sở đã phối hợp với các ngành có liên quan và các cơ quan tố tụng ban hành Quy chế phối hợp cung cấp thông tin và khai thác dữ liệu LLTP. Tham mưu tổng kết Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành. Quan tâm công tác CCHC và ứng dụng công nghệ thông tin, đảm bảo minh bạch, công khai, giải quyết theo quy trình ISO-9001-2008 và theo cơ chế một cửa trong thực hiện các thủ tục hành chính về lý lịch Tư pháp. Góp phần đáp ứng yêu cầu cần chứng minh về án tích của cá nhân, hỗ trợ hoạt động tố tụng hình sự và thống kê tư pháp hình sự cho các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.
Trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, Sở đã làm tốt vai trò là cơ quan thường trực của Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng như: kiện toàn thành viên Hội đồng và Tổ giúp việc của Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng; tiến hành kiểm tra liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng; tạo điều kiện thuận lợi cho người thực hiện trợ giúp pháp lý tiếp cận các dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí trong đó có hình thức tham gia tố tụng. Vì vậy, đến nay 100% Trợ giúp viên pháp lý được bổ nhiệm đã tham gia tố tụng; 100% vụ việc tham gia tố tụng được tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý.Ngoài ra, Sở đã giúp UBND tỉnh hướng dẫn các ngành, địa phương tổ chức tổng kết và tổng kết thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý, Kế hoạch triển khai Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý; thực hiện hướng chấm điểm các chỉ tiêu chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở về trợ giúp pháp lý ...Ngoài các hoạt động nêu trên, hàng năm Sở đều tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ và bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho các chức danh bổ trợ tư pháp...
Có thể nói, sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị và các Chương trình, Kế hoạch của Tỉnh ủy, UBND tỉnh về CCTP, mặc dù một số mặt chưa đạt yêu cầu, nhưng có thể khẳng định đội ngũ luật sư ngày càng phát triển, đạt các chỉ tiêu theo Đề án phát triển đội ngũ luật sư và tổ chức hành nghề luật sư của tỉnh đến năm 2020, chế độ tự quản của các tổ chức hành nghề luật sư bước đầu được phát huy, trách nhiệm của luật sư trong quá trình hành nghề bước đầu được đề cao. Hoạt động giám định của các tổ chức giám định trong thời gian qua cơ bản đáp ứng được yêu cầu của các trưng cầu giám định của cơ quan tiến hành tố tụng; các kết quả giám định đảm bảo được tính chính xác, khách quan, khoa học, trung thực. Đối với lĩnh vực công chứng đã bước đầu xác định rõ phạm vi của công chứng và chứng thực, từng bước thực hiện mục tiêu xã hội hóa công chứng. Nếu đứng từ khâu trung tâm của CCTP là tòa án với hoạt động xét xử và đột phá của CCTP là mở rộng tranh tụng dân chủ nhìn ra, thì có thể nói, ngành Tư pháp chỉ đứng ở vị trí bổ trợ, nói chính xác là giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước các tổ chức bổ trợ tư pháp (như luật sư, giám định tư pháp, công chứng, đấu giá tài sản, trợ giúp pháp lý...) với tư cách là thẩm phán phòng ngừa, bổ trợ cho thẩm phán xét xử. Chính hoạt động bổ trợ này cũng đã tác động và góp phần thực hiện mục tiêu của công cuộc CCTP. Tạo điều kiện cho cơ quan xét xử trong hoạt động thu thập chứng cứ, bảo đảm khách quan, công minh, nhanh chóng, chính xác khi giải quyết vụ án. Và vì vậy, cơ quan hành pháp thực hiện cải cách tư pháp cũng từ ý nghĩa sâu xa đó.
Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc và tồn tại, như: Mặc dù so với Đề án phát triển đội ngũ luật sư và tổ chức hành nghề luật sư đến năm 2020 thì đến nay tỉnh ta đã đạt chỉ tiêu cho cả giai đoạn 2011-2015 cả về số lượng luật sư và tổ chức hành nghề luật sư, nhưng so với số lượng luật sư trên toàn quốc, số lượng luật sư trên địa bàn tỉnh Quảng Bình còn thấp ( tỉnh ta tỷ lệ 1 luật sư/22.972 người dân, trong khi đó cả nước tỷ lệ trung bình là 1 luật sư/10.000 người dân). Chất lượng đội ngũ luật sư còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng. Nhận thức của xã hội về vị trí, vai trò của luật sư trong việc tư vấn, giúp đỡ về mặt pháp lý chưa toàn diện, sâu sắc, số vụ việc có luật sư tham gia còn ít. Cơ quan, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp chưa có thói quen sử dụng dịch vụ pháp lý do luật sư và các tổ chức tư vấn pháp luật cung cấp. Tỷ lệ khách hàng là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức còn ở mức độ khiêm tốn. Chưa có tổ chức luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại, nhất là thương mại quốc tế. Năng lực, kinh nghiệm, kiến thức chuyên sâu và kỹ năng nghề nghiệp chưa thực sự đáp ứng kịp nhu cầu của xã hội và yêu cầu cải cách tư pháp. Hiệu quả hoạt động tranh tụng tại phiên tòa, tư vấn, trợ giúp pháp lý trong các vụ án hình sự thấp; chưa có luật sư giỏi để có thể tham gia có hiệu quả các tranh chấp trong nước chưa nói đến các tranh chấp quốc tế. Còn một bộ phận luật sư chưa thực sự đề cao tinh thần trách nhiệm và ý thức bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân; chưa thực hiện nghiêm túc quy tắc đạo đức nghề nghiệp, làm ảnh hưởng đến uy tín của luật sư. Một số cơ quan chưa tạo điều kiện thuận lợi để luật sư hành nghề. Việc đào tạo luật sư thực sự bất cập, theo quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh thì đào tạo những người trong độ tuổi lao động. Trong khi ở tỉnh ta Luật sư chủ yếu là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên và cán bộ nghĩ hưu (chiếm tỷ lệ trên 80%). Lại còn khó hơn khi đào tạo luật sư đáp ứng yêu cầu hội nhập và tranh tụng quốc tế. Việc đầu tư kinh phí, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ giám định chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là về phương tiện, trang thiết bị, kỹ thuật; quy trình, quy chuẩn trong hoạt động giám định ở từng lĩnh vực cũng chưa được từng Bộ, Ngành ở Trung ương ban hành, hướng dẫn thực hiện. Chủ trương xã hội hoá về hoạt động giám định khó thực hiện. Đội ngũ cán bộ kỹ thuật, giám định viên chuyên trách làm việc trong tổ chức giám định còn thiếu, nhất là trong lĩnh vực pháp y và pháp y tâm thần. Hoạt động trợ giúp pháp lý còn nhiều khó khăn, còn bỏ sót các đối tượng được trợ giúp trong hoạt động tố tụng. Năng lực giám định tư pháp trong các lĩnh vực về tài chính, ngân hàng, xây dựng, chuyên ngành kỹ thuật còn khó khăn, hạn chế. Chế độ, chính sách cho người giám định chưa tương xứng. Đối với lĩnh vực công chứng, một số văn bản pháp luật có liên quan chưa phù hợp, khó áp dụng trong thực tiễn, chưa lường hết, dự liệu hết những vướng mắc, bất cập, gây tâm lý lo lắng, băn khoăn cho những người đang hành nghề; nhận thức đối với loại hình nghề nghiệp đặc thù này ở một số địa phương chưa đầy đủ. Các quy định về chế độ, chính sách và cơ chế tài chính cho phòng công chứng và văn phòng công chứng còn bất cập. Chưa có cơ sở dữ liệu thông tin chung về các hợp đồng, giao dịch đã được công chứng nên đã hạn chế quá trình trao đổi thông tin giữa các tổ chức hành nghề công chứng, các cơ quan Đăng ký quyền sử dụng đất và các cơ quan, tổ chức khác có liên quan, nhất là các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng để phòng ngừa rủi ro; chưa phân định, tách bạch rõ giữa công chứng và chứng thực, việc phát triển tổ chức hành nghề công chứng còn khó khăn và những khó khăn, vướng mắc tồn tại khác đã ảnh hưởng đến kết quả hoạt động cải cách tư pháp của ngành Tư pháp trong thời gian qua, cần được khắc phục, tập trung tháo gỡ trong thời gian tới.
Minh Hương
Các tin khác
- Vai trò của việc đấu giá quyền sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường (02/08/2016)
- Đổi mới công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp (07/07/2016)
- Đôi điều suy nghĩ về việc phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng (08/07/2016)
- Đôi điều suy nghĩ qua thực hiện đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật ở cơ sở (07/07/2016)
- Sự cần thiết ban hành Quy chế cộng tác viên kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (07/07/2016)
- Tìm hiểu về quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức trong công tác phòng, chống tham nhũng (06/07/2016)
- Cần sớm có chế định điều chỉnh việc ban hành quyết định hành chính (07/07/2016)
- Cần quy định cụ thể về điều kiện của chủ thể tham gia đấu giá quyền sử dụng đất (07/07/2016)
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trong bầu cử (15/04/2016)
- TÌM HIỂU MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ TIÊU CHUẨN, ĐIỀU KIỆN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XIV VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2016 - 2021 (15/04/2016)









