Chi tiết tin - Sở Tư pháp
Cần thực hiện nghiêm túc hơn việc lấy ý kiến của Nhân dân trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật
Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND và hiện nay là theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các văn bản hướng dẫn thi hành, căn cứ Hiến pháp, các Luật, Nghị định, Thông tư và các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) khác có liên quan, HĐND, UBND ban hành các chính sách, pháp luật để tổ chức quản lý các lĩnh vực trong đời sống xã hội ở địa phương. Đây là quyền hạn và cũng chính là hoạt động thực hiện, thể hiện quyền lực Nhà nước và chức năng quản lý xã hội ở địa phương.
Một văn bản pháp luật được ban hành bao giờ cũng tác động đến quyền và lợi ích của một hoặc một số đối tượng hoặc một nhóm đối tượng nhất định. Thực tế cho thấy nếu văn bản pháp luật khi ban hành hợp hiến, hợp pháp, phù hợp với quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân và tình hình kinh tế - xã hội của địa phương thì quá trình thi hành sẽ rất thuận lợi. Tuy nhiên, nếu văn bản pháp luật không phù hợp với thực tiễn sẽ dẫn tới những khó khăn trong quá trình thực thi, làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan ban hành văn bản, thậm chí ảnh hưởng đến hiệu quả phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Vì vậy, để hạn chế những tác động tiêu cực có thể xảy ra của văn bản QPPL đối với đối tượng chịu sự tác động, các cơ quan chức năng cần phải tuân thủ đầy đủ quy trình soạn thảo, ban hành văn bản, trong đó một trong những khâu quan trọng là tổ chức lấy ý kiến của Nhân dân là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của hầu hết các văn bản QPPL.
Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã quy định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Điều này khẳng định, Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng Nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mình. Nhân dân còn thực hiện quyền lực của mình bằng cách tham gia vào công việc của Nhà nước trong đó có nhiệm vụ ban hành và giám sát thực hiện các chính sách, pháp luật để quản lý xã hội. Để thực hiện quyền đó, một trong những kênh để giúp người dân tham gia quản lý nhà nước đó là tham gia ý kiến vào quá trình xây dựng các văn bản QPPL.
Về trình tự, thủ tục, cách thức, thời gian tổ chức lấy ý kiến của Nhân dân đối với dự thảo văn bản QPPL đã được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Luật Ban hành văn bản của HĐND, UBND năm 2004 và nay là Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015. Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân tham gia dự thảo văn bản QPPL đảm bảo phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật, đồng thời đảm bảo tuân thủ quy trình soạn thảo, ban hành văn bản QPPL theo quy định của pháp luật.
Về trình tự, thủ tục, cách thức, thời gian tổ chức lấy ý kiến của Nhân dân đối với dự thảo văn bản QPPL đã được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Luật Ban hành văn bản của HĐND, UBND năm 2004 và nay là Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015. Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân tham gia dự thảo văn bản QPPL đảm bảo phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật, đồng thời đảm bảo tuân thủ quy trình soạn thảo, ban hành văn bản QPPL theo quy định của pháp luật.
Điều 6 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 đã quy định: (2) Trong quá trình xây dựng văn bản QPPL, cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản QPPL, dự thảo văn bản QPPL; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản QPPL; (3) Ý kiến tham gia về đề nghị xây dựng văn bản QPPL, dự thảo văn bản QPPL phải được nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình chỉnh lý dự thảo văn bản.
Đồng thời Điều 120, Điều 129 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 còn quy định: (1) Dự thảo nghị quyết của HĐND, UBND cấp tỉnh phải được đăng tải toàn văn trên cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến; (2) Trong trường hợp lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết, quyết định thì cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến và bảo đảm ít nhất là 30 ngày kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượng được lấy ý kiến góp ý vào dự thảo văn bản.
Như vậy việc tổ chức lấy ý kiến của người dân vào dự thảo văn bản QPPL là một quy định mang tính bắt buộc trong trình tự thủ tục soạn thảo ban hành văn bản của HĐND và UBND; đồng thời nó có tác động rất lớn trong quá trình tổ chức thi hành sau khi văn bản được ban hành, điều đó được thể hiện trên các khía cạnh sau:
Một là, việc lấy ý kiến rộng rãi trong Nhân dân sẽ giúp cho người dân được quyền tham gia hoạch định chính sách và chính người dân mới là người trực tiếp chịu sự điều chỉnh của văn bản nên họ sẽ đưa ra được những chính sách, quy định phù hợp với các điều kiện thực tiễn. Từ đó văn bản pháp luật sẽ có tính khả thi cao, tránh được bệnh chủ quan, duy ý chí, áp đặt từ cơ quan Nhà nước.
Hai là, quá trình tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo văn bản QPPL, nếu được đông đảo người dân đồng tình thì điều này cho thấy việc hoạch định chính sách của địa phương phù hợp với tâm tư, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của Nhân dân, chắc chắn văn bản sau khi ban hành sẽ nhận được sự đồng tình, ủng hộ và tự giác thực hiện của các đối tượng có liên quan. Ngược lại quá trình lấy ý kiến Nhân dân, nếu dự thảo văn bản QPPL không nhận được sự đồng tình của Nhân dân, thì đây cũng là dịp để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem lại việc tham mưu, hoạch định chính sách, việc đánh giá, tổng kết thực tiễn; từ đó có hướng nghiên cứu, soạn thảo ban hành chính sách, quy định khác phù hợp hơn, đồng thời hạn chế được việc ban hành văn bản chỉ mang tính chủ quan từ phía cơ quan Nhà nước, áp đặt quyền lực Nhà nước, buộc Nhân dân phải thực hiện, sẽ không tạo được sự đồng thuận, hiệu lực của văn bản và lòng tin của Nhân dân đối với chính sách, pháp luật sẽ bị giảm sút.
Ba là, việc tổ chức lấy ý kiến góp ý của Nhân dân vào dự thảo văn bản QPPL cũng là một hình thức tuyên truyền trước, mang tính tích cực chủ động để người dân nghiên cứu thảo luận tiếp cận trước một bước với văn bản pháp luật tạo điều kiện thuận lợi để văn bản đi vào cuộc sống khi được chính thức ban hành và có hiệu lực thi hành.
Thông qua hoạt động lấy ý kiến góp ý của Nhân dân sẽ góp phần thu hút được sự tham gia đông đảo các tầng lớp Nhân dân, bước đầu huy động được trí tuệ của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý. Thông qua đó, các chủ trương, nghị quyết của các cấp ủy đảng, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương đã được thể chế hóa, cụ thể hóa kịp thời, đồng bộ, phù hợp tình hình thực tiễn của địa phương, đáp ứng cơ bản yêu cầu quản lý, điều hành của chính quyền địa phương bằng pháp luật.
Quá trình tổ chức lấy ý kiến Nhân dân vào dự thảo văn bản QPPL có chất lượng, hiệu quả hay không nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố từ cơ quan chủ trì soạn thảo; từ ý thức, trách nhiệm của người tham gia góp ý; thời điểm, hình thức, cách thức, phạm vi tổ chức lấy ý kiến. Quá trình tổ chức lấy ý kiến góp ý của Nhân dân trong quá trình ban hành chính sách, pháp luật ở địa phương cần lưu ý một số vấn đề sau:
Thứ nhất, trong hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương, có rất nhiều lĩnh vực thuộc nhiều ngành khác nhau và mỗi ngành có tính chuyên sâu và mức độ tác động đến người dân là rất khác nhau. Vì vậy, khi tổ chức lấy ý kiến nhân dân tham gia vào dự thảo văn bản QPPL cần phải xác định rõ về đối tượng bị tác động, mức độ tác động để tổ chức lấy ý kiến. Đối với những văn bản có tác động lớn đến đông đảo người dân thì tổ chức lấy ý kiến rộng rãi; đối với những văn bản chỉ tác động đến một nhóm đối tượng nhất định thì chỉ nên tổ chức lấy ý kiến của nhóm đối tượng chịu sự tác động đó, cơ quan chủ trì soạn thảo phải xác định rõ những vấn đề có tác động lớn đến người dân thì cần tổ chức lấy ý kiến rộng rãi, bởi nếu lấy ý kiến tràn lan thì việc lấy ý kiến cũng chỉ là hình thức, không hiệu quả;
Thứ hai, trong hoạt động ban hành văn bản QPPL, có những trường hợp theo chương trình được ban hành từ đầu năm (chủ động) nhưng cũng có những chính sách, quy định đột xuất phải ban hành kịp thời để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội đang phát sinh, nếu văn bản nào cũng tổ chức lấy ý kiến rộng rãi thì sẽ làm chậm trễ quá trình điều hành quản lý, trong những trường hợp này này nên tổ chức lấy ý kiến thông qua Mặt trận và các tổ chức đoàn thể của Mặt trận.
Thứ ba, về hình thức lấy ý kiến, theo quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL, Dự thảo văn bản QPPL của cấp tỉnh phải được đăng tải toàn văn trên cổng thông tin điện tử của tỉnh trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến. Hiện nay, hạ tầng công nghệ thông tin viễn thông của một số địa phương chưa đồng bộ, nhất là đối với các địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; mặt khác, thói quen và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin của một bộ phận nhân dân còn hạn chế. Vì vậy, việc lấy ý kiến Nhân dân vào dự thảo văn bản QPPL cần phải thực hiện song song cả 2 hình thức (lấy ý kiến bằng cách gửi văn bản và đăng tải trên cổng/trang thông tin điện tử) để đảm bảo cách thức lấy ý kiến phù hợp với từng đối tượng ở từng địa bàn khác nhau.
Luật gia Đình Huân
Các tin khác
- Chi hội Luật gia Sở Tư pháp Quảng Bình với hành trình đưa pháp luật vào đời sống (16/05/2018)
- Vấn đề xây dựng, củng cố và phát triển tổ chức Hội Luật gia trong giai đoạn hiện nay (16/05/2018)
- Hội Luật gia huyện Lệ Thủy với công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý (16/05/2018)
- Chi hội Luật gia Sở Tư pháp Quảng Bình không ngừng nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng (16/05/2018)
- Chi hội Luật gia Cục Hải quan Quảng Bình với hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (16/05/2018)
- Một số khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị trong triển khai Luật Đấu giá tài sản (02/05/2018)
- Doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn được hưởng các cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư nào? (26/04/2018)
- Tìm hiểu quyền tư pháp theo quy định của Hiến pháp 2013 (13/02/2018)
- Một số bất cập về giao kết hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2012 (13/02/2018)
- Miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (13/02/2018)









