Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 3

  • Hôm nay 453

  • Tổng 9.204.572

Quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản, một số bất cập cần xử lý

9:0, Thứ Tư, 28-11-2018

Xem với cỡ chữ : A- A A+

Khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2013 đã giải thích từ ngữ về vi phạm hành chính như sau: Vi phạm hành chính được hiểu là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản được hiểu là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
Tại khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.
Theo đó, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là một trong những vấn đề quan trọng của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính nói chung, pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động bán đấu giá tài sản nói riêng. Người có thẩm quyền xử phạt hành chính trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản được pháp luật quy định tại Điều 46 Luật Xử lý vi phạm hành chính, các điều 66, 67, 72, 73 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Điều 12 Nghị định số 54/2014/NĐ-CP ngày 29/5/2014 về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Ngành Tư pháp, bao gồm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Thanh tra viên, Trưởng Đoàn thanh tra chuyên ngành, Chánh Thanh tra Sở Tư pháp; Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, Trưởng Đoàn thanh tra chuyên ngành, Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp. Ngoài những người có thẩm quyền xử phạt nêu trên, những người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các cơ quan khác theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính, thì trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao mà phát hiện các hành vi vi phạm hành chính quy định theo Nghị định số 110/2013/NĐ-CP thuộc lĩnh vực hoặc địa bàn quản lý của mình cũng có quyền xử phạt.
Đồng thời Điều 46 Luật Xử lý vi phạm hành chính, Điều 66, Điều 67 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Điều 12 Nghị định số 54/2014/NĐ-CP đã quy định những người có thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản bao gồm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Trưởng Đoàn thanh tra chuyên ngành, Chánh Thanh tra Sở Tư pháp; Trưởng Đoàn thanh tra chuyên ngành, Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp.
Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Theo đó, mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật; việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật; việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng; chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định, một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần, nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó, một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính; đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Mục 5 Chương II Nghị định số 110/2013/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định các hình thức xử phạt chính trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản gồm: Cảnh cáo; phạt tiền; tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề đấu giá có thời hạn từ 06 tháng đến 09 tháng và thời hạn 12 tháng. Cũng tại Mục 5 Chương II Nghị định số 110/2013/NĐ-CP đã quy định các biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản bao gồm: Hủy bỏ giấy tờ giả; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính; hủy bỏ kết quả bán đấu giá tài sản. Trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản không áp dụng hình thức xử phạt bổ sung.
Nghị định số 110/2013/NĐ-CP đã quy định những nội dung cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện công tác xử lý vi phạm hành chính một cách chính xác, đúng nguyên tắc xử lý theo quy định, nhưng bên cạnh đó vẫn có một số nội dung cách hiểu, cách áp dụng chưa thống nhất hoặc chưa được đồng thuận gây khó khăn cho việc xử lý vi phạm hành chính, nhiều hành vi vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực được thanh tra như luật sư, công chứng, đấu giá tài sản, thi hành án dân sự chưa có chế tài xử phạt…
Tuy nhiên vẫn còn vướng mắc, bất cập giữa Luật Đấu giá tài sản và Nghị định số 110/2013/NĐ-CP trong quy định về xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Tại Khoản 1 Điều 19 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định:
“1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp trong hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá.”
Theo đó, chỉ có hành vi “sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp trong hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá” khi bị phát hiện tùy theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền và mức phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính sẽ áp dụng trung bình cộng giữa mức cao nhất và thấp nhất của khung phạt tiền.
Luật Đấu giá tài sản không chỉ quy định hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá mà còn các loại hồ sơ khác như hồ sơ đề nghị cấp thẻ đấu giá viên, hồ sơ đăng ký hoạt động của doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp… Tuy nhiên, Nghị định 110/2013/NĐ-CP chỉ mới quy định xử lý hành vi sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp trong hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá, còn hành vi sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp trong hồ sơ yêu cấp thẻ đấu giá viên, hồ sơ đề nghị đăng ký hoạt động của doanh nghiệp, hồ sơ đề nghị thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của doanh nghiệp… thì chưa được quy định trong Nghị định, nên người có thẩm quyền không thể áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 19 của Nghị định 110/2013/NĐ-CP để xử lý vi phạm hành chính khi phát hiện các hành vi vi phạm trên.
Bên cạnh đó, nội dung Khoản 1 Điều 19 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định còn chung chung và dấu hiệu nhận biết hành vi vi phạm hành chính không rõ ràng dẫn đến việc áp dụng không thống nhất giữa các chủ thể có thẩm quyền. Từ thực tiễn áp dụng có 2 quan điểm khác nhau đó là:
Thứ nhất, việc xử lý vi phạm hành chính chỉ được áp dụng khi phát hiện người vi phạm thực hiện đầy đủ hành vi sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Thứ hai, việc xử lý vi phạm hành chính được áp dụng khi phát hiện người vi phạm thực hiện 01 trong các hành vi sửa chữa hoặc tẩy xóa hoặc làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Theo quan điểm cá nhân tôi, tôi đồng tình với ý kiến thứ 2, vì thực tế chỉ cần có một trong 3 hành vi trên thì đã làm cho bản chất nội dung giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp đã có sự thay đổi so với ban đầu nên chỉ cần có một hành vi vi phạm là bị xử lý theo quy định.
Từ thực tiễn trên, thiết nghĩ cần phải sửa đổi, bổ sung Khoản 1, Điều 19 theo hướng tách rời từng hành vi vi phạm, không gộp chung; đồng thời bổ sung các hành vi vi phạm về sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung giấy tờ các trong loại hồ sơ khác nhưng chưa được điều chỉnh trong Nghị định số 110/2013/NĐ-CP, bổ sung quy định xử lý đối với các hành vi vi phạm hành chính về khai man hồ sơ để làm thu tục theo quy định của Luật Đấu giá tài sản. Theo đó đề nghị sửa đổi, bổ sung các quy định tại các khoản còn lại trong Điều 19 cho phù hợp và đồng bộ để thuận tiện trong việc áp dụng.

Tuyết Hà

Các tin khác