Chi tiết tin - Sở Tư pháp
Một số khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính
Hoạt động xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) liên quan đến hơn 25 nhóm chủ thể có thẩm quyền xử phạt ở hơn 56 lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau. Các hành vi vi phạm hành chính đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do đó, công tác xử lý vi phạm hành chính có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ cương hành chính trong đời sống kinh tế - xã hội, là cơ sở để đảm bảo công bằng xã hội và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Thời gian qua, các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh đã tăng cường công tác phổ biến, quán triệt, tập huấn nghiệp vụ, tuần tra kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Qua đó đã góp phần nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ XLVPHC, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về XLVPHC, hạn chế những sai sót trong quá trình thực thi công vụ về XLVPHC; công tác kiểm tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC được thực hiện tập trung vào một số lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm, dễ phát sinh vi phạm. Các cơ quan có thẩm quyền đã thực hiện nhiều biện pháp nghiệp vụ, tuần tra, kiểm soát để phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đạt được những kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong việc phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật hành chính, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.
Tuy vậy, quá trình triển khai thi hành Luật XLVPHC và các văn bản hướng dẫn thi hành còn gặp phải một số khó khăn, vướng mắc; nhất là sự mâu thuẫn, thiếu thống nhất, đồng bộ giữa Luật Xử lý VPHC với các văn bản có liên quan như:
- Tại Điều 125 Luật XLVPHC quy định về tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, thủ tục hành nghề theo thủ tục hành chính. Việc quy định này không bao gồm giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, chứng minh thư nhân dân, thẻ căn cước, bên cạnh đó các hình thức xử phạt bổ sung của các nghị định như Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo; Nghị định số 28/2017/NĐ-CP ngày 20/3/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan và Nghị định số 158/2013/NĐ-CP lại không quy định các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính được quyền tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong quá trình thi hành nhiệm vụ. Thực trạng này đã gây không ít khó khăn, đặc biệt là cơ quan thanh tra chuyên ngành trong việc đảm bảo việc chấp hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
- Điểm c Khoản 4 Điều 52 Luật XLVPHC quy định “nếu hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thuộc các ngành khác nhau thì thẩm quyền xử phạt thuộc về Chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm”; tuy nhiên tại Điểm b Khoản 7 Điều 10 Thông tư số 78/2016/TT-BQP quy định “trường hợp VPHC vừa có hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt của Bộ đội biên phòng vừa có hành vi thuộc thẩm quyền của cơ quan khác thì người có thẩm quyền xử phạt trong bộ đội biên phòng ra quyết định xử phạt đối với hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt của bộ đội biên phòng, đồng thời có văn bản chuyển giao hồ sơ, tang vật, phương tiện VPHC không thuộc thẩm quyền xử phạt của bộ đội biên phòng cho cơ quan có thẩm quyền” hai nội dung này mâu thuẫn nhau.
- Điều 122 Luật XLVPHC và Nghị định số 112/2013/NĐ-CP ngày 02/10/2013 của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 17/2016/NĐ-CP quy định tạm giữ người theo thủ tục hành chính chỉ áp dụng trong 03 trường hợp; thời hạn tạm giữ không được quá 12 giờ, trường hợp cần thiết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 24 giờ, đối với người vi phạm quy chế biên giới hoặc VPHC ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 48 giờ. Tuy nhiên trên thực tế xảy ra nhiều trường hợp người vi phạm hành chính có hành vi tàng trữ, vận chuyển các chất nghi là ma túy, vật liệu nổ, pháo nổ... cần phải giám định thì việc quản lý người vi phạm trong lúc chờ kết quả giám định gặp nhiều khó khăn (Điều 208 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định thời hạn giám định các chất ma túy, vật liệu nổ...không quá 09 ngày).
- Khoản 1 Điều 3 Luật XLVPHC quy định “Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần”. Trong khi đó tại Điểm b Khoản 1 Điều 10 của Luật quy định tình tiết tăng nặng là “vi phạm hành chính nhiều lần, tái phạm”. Quy định nguyên tắc XPVPHC như trên là thiếu rõ ràng, thiếu thống nhất; gây ra lúng túng, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Với những hành vi VPHC lặp lại nhiều lần, tại nhiều thời điểm khác nhau thì áp dụng theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 10 (coi đó là tình tiết tăng nặng) hay xử phạt theo từng thời điểm xảy ra vi phạm theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật XLVPHC.
- Về thực hiện quyền giải trình, theo quy định tại Khoản 1 Điều 61 Luật XLVPHC: “Đối với hành vi vi phạm hành chính mà pháp luật quy định áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc áp dụng mức phạt tiền tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức thì cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính…”. Quy định mức phạt tiền tối đa để tổ chức, cá nhân có quyền giải trình như vậy là chưa cụ thể, nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất.
- Về tịch thu tang vật, phương tiện VPHC, Điều 26 Luật XLVPHC quy định: Tịch thu tang vật, phương tiện VPHC là việc sung vào ngân sách Nhà nước vật, tiền, hàng hoá, phương tiện có liên quan trực tiếp đến VPHC, được áp dụng đối với VPHC nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức. Như vậy, việc tịch thu, tang vật, phương tiện VPHC chỉ áp dụng đối với VPHC nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, thực tiễn trong rất nhiều trường hợp cá nhân, tổ chức vận chuyển hàng hóa nhưng không được biết (chính xác, thực chất) là vận chuyển mặt hàng gì nên rất khó có thể chứng minh hành vi do lỗi cố ý, mặc dù mức độ vi phạm là nghiêm trọng.
- Về thời hạn thi hành quyết định XPVPHC, theo quy định tại Khoản 2 Điều 68 Luật XLVPHC: “Thời hạn thi hành quyết định là 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt; trường hợp quyết định xử phạt có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó”. Trong trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm không thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì có thể bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại Mục 3 Chương III Luật XLVPHC. Tuy nhiên, tại Điểm i Khoản 1 Điều 68 Luật XLVPHC quy định quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức là một trong những nội dung cơ bản trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Theo quy định tại Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng hành chính năm 2015, thì trong trường hợp không đồng ý với quyết định xử phạt hành chính của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền thì cá nhân, tổ chức có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện; việc khiếu nại hoặc khởi kiện thực hiện theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định.
Ngoài việc mâu thuẫn, thiếu thống nhất giữa Luật XLVPHC và các văn bản có liên quan thì nhiều quy định trong Luật XLVPHC còn thiếu tính khả thi, thậm chí không thể thực hiện trên thực tế như:
- Về thời gian tạm giữ tang vật tại Khoản 3 Điều 60 Luật XLVPHC quy định: “Thời hạn tạm giữ tang vật để xác định giá trị không quá 24 giờ, kể từ thời điểm ra quyết định tạm giữ, trong trường hợp thật cần thiết thì thời hạn có thể kéo dài thêm nhưng tối đa không quá 24 giờ”. Như vậy, thời gian tạm giữ tang vật để xác định giá trị tối đa không quá 48 tiếng là chưa phù hợp với thực tế vì thời gian tạm giữ là quá ngắn, do phải thành lập Hội đồng định giá, nhất là những vụ vi phạm mà tang vật là hàng hóa nhập lậu, nhiều chủng loại thì thời gian không đủ để định giá theo quy định.
- Khoản 1 Điều 66 Luật XLVPHC quy định “Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính”. Quy định này được hiểu là trong thời hạn 07 ngày (bao gồm cả ngày lễ, ngày nghỉ) kể từ ngày lập biên bản người có thẩm quyền phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên có một số trường hợp người lập biên bản vi phạm hành chính ở cấp xã, nhưng hành vi đó lại thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp huyện hoặc cấp tỉnh, trong trường hợp này người lập biên bản phải hoàn chỉnh, chuyển tất cả hồ sơ liên quan cho người có thẩm quyền ra quyết định. Đối với những xã có điều kiện đi lại khó khăn, việc gửi hồ sơ phải mất nhiều thời gian, khi đó người ra quyết định xử phạt sẽ gặp khó khăn trong việc đảm bảo về mặt thời gian.
- Tại Khoản 3, Khoản 5 Điều 90 quy định đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Khoản 4 Điều 92 quy định đối tượng bị đưa vào trường giáo dưỡng; Khoản 1 Điều 94 quy định đối tượng bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc: “vi phạm trật tự an toàn xã hội 02 lần trở lên trong 06 tháng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”. Thực tế cho thấy điều kiện áp dụng là rất khó thực hiện vì thời gian của 02 lần vi phạm trở lên trong 06 tháng quá ngắn, rất khó để có đối tượng để áp dụng biện pháp này.
- Tại Khoản 1 Điều 122 quy định việc tạm giữ người chỉ được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác hoặc có căn cứ cho rằng có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Tuy nhiên, thực tế ở khu vực biên giới xảy ra nhiều trường hợp người vi phạm hành chính có nhân thân lai lịch không rõ ràng, cần có thời gian để xác minh nhân thân, có tái phạm hay không tái phạm… thì việc quản lý người vi phạm để đảm bảo cho việc XLVPHC gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với trường hợp không có giấy tờ, phương tiện, tài sản đảm bảo cho việc thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Bên cạnh đó, quá trình áp dụng các quy định của pháp luật về xử lý VPHC các cơ quan, người có thẩm quyền trong lập biên bản vi phạm hành chính, trong ban hành quyết định xử lý vi phạm hành chính còn có nhiều sai sót, hạn chế như: xác định hành vi vi phạm trong khi lập biên bản VPHC không chính xác, dẫn chiếu hành vi vi phạm không được quy định trong các Nghị định của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính hoặc xác định hành vi vi phạm này nhưng lại dẫn chiếu đến điều khoản vi phạm khác dẫn đến thiếu cơ sở để ban hành Quyết định xử phạt; chậm ban hành quyết định xử phạt VPHC sau khi lập biên bản; không thông báo quyền giải trình cho người vi phạm hoặc ban hành quyết định khi chưa hết thời hạn giải trình; xác định thẩm quyền xử phạt chưa đúng quy định; ban hành quyết định vượt quá thẩm quyền xử phạt; một số vụ việc đã quá thời hạn thi hành quyết định nhưng chưa được cưỡng chế thi hành; việc áp dụng mức phạt tiền không đúng nguyên tắc; việc áp dụng các biểu mẫu trong lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính chưa theo quy định... những nguyên nhân nêu trên đã ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện pháp luật về xử lý VPHC trên địa bàn.
Nhật Tân
Các tin khác
- Bàn về hiệu quả của các quyết định hành chính của chính quyền cơ sở (08/04/2019)
- Một số vấn đề pháp lý về ngưng hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật (08/04/2019)
- Một số khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn cấp Phiếu Lý lịch tư pháp (27/02/2019)
- Những bất cập khi cuộc đấu giá chỉ có một người tham gia (01/02/2019)
- Bãi bỏ các quy định có liên quan đến Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020 (01/02/2019)
- Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật Giám định tư pháp (01/02/2019)
- Những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn thi hành pháp luật về hộ tịch (01/02/2019)
- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật trên địa bàn tỉnh (01/02/2019)
- Những khó khăn, bất cập trong thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (01/02/2019)
- Tiếp tục hoàn thiện pháp luật trong hoạt động cung cấp thông tin lý lịch tư pháp (29/01/2019)









